- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Ngọc Bảo phạm tội TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? *Căn cứ: khoản 01 Điều 173; điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2025/HSST Ngày: 22 - 01 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Bính.
2. Bà: Trần Thị Thanh Nga.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 351/2025/HSST ngày 09 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 420/2025/QĐXXST – HS ngày 07/01/2025 đối với bị cáo:
Trịnh Ngọc B, Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam, Sinh năm 2003 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: khu phố 7, phường D, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Nghề nghiệp: làm thuê; Con ông: Trịnh Văn H, sinh năm 1980; Hiện trú: khu phố 4, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Con bà: không rõ; Vợ: Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 2005 (không đăng kí kết hôn); Con: 02 đứa con (chưa đăng kí giấy khai sinh); Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 23/8/2023, bị Ủy ban nhân dân phường Lạc Đạo, thành phố Phan Thiết xử phạt 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 174/QĐ-XPVPHC, hiện chưa nộp phạt; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2024, hiện đang tạm giữ tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Phan Thiết “có mặt”.
*Bị hại:
1/Bùi Thanh Th, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố 7, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
2/Nguyễn Tấn Ph, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố 4, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Đỗ Hoàng Vũ Q, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố 3, phường Xuân An, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 27/10/2023 đến ngày 15/11/2023, Trịnh Ngọc B đã hai lần trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Phan Thiết, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 27/10/2023, Trịnh Ngọc B ngồi uống cà phê tại khu vực ngã bảy thuộc phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết gặp một người tên Huy (không rõ nhân thân). Huy rủ B đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì B đồng ý. Huy điều khiển xe mô tô loại Wave (không rõ biển số) chở B đi lòng vòng trên các tuyến đường thuộc thành phố Phan Thiết tìm tài sản trộm cắp. Khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, Huy và B đi đến quán cà phê P trên đường Nguyễn Tất Thành thuộc khu phố 7, phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết do chị Bùi Thanh Th (sinh năm 1986; HKTT: khu phố 7, Phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh) làm chủ thì Huy dừng xe lại. Huy đứng ở ngoài cảnh giới cho B đi vào trong khu vực quầy lễ tân của quán cà phê P tìm tài sản lấy trộm. B nhìn thấy trong hộc bàn dưới bàn thu ngân có 01 bịch nylon màu đen nên mở ra xem thì thấy 02 cọc tiền được cột bằng dây thun. B bỏ 02 cọc tiền lại vào bịch nylon, cất giấu vào người rồi tiếp tục lục tìm ở nhiều vị trí khác trong khu vực quầy pha chế và thu ngân nhưng không tìm được tài sản khác có giá trị nên B đi ra ngoài chỗ Huy đang đứng cảnh giới. B đưa túi tiền vừa trộm được cho Huy. Sau đó Huy điều khiển xe mô tô chở B đến đường hẻm bên cạnh nhà thờ Lạc Đạo thuộc phường Lạc Đạo, thành phố Phan Thiết rồi dừng xe. Huy lấy bịch nylon ra lấy 01 cọc tiền được buộc dây thun đưa cho B còn Huy giữ cọc tiền còn lại. B đi bộ về nhà của B thuộc khu phố 7, phường Đức Long, thành phố Phan Thiết lấy cọc tiền ra đếm được 4.253.000 đồng. Sau đó, B tiêu xài hết số tiền trên.
Đối với số tiền bị B và Huy lấy trộm, quá trình điều tra xác định: Tối ngày 26/10/2023, chị Nguyễn Thị Lâm K (sinh năm 2002, HKTT: tổ 7, thôn 6, xã AD, huyện B, tỉnh Bình Thuận, là nhân viên thu ngân của quán) đếm số tiền bán nước của quán cà phê P trong ngày 26/10/2023 là 10.253.000 đồng, sau đó cột thành 02 cọc tiền bỏ vào túi nylon và cất tại hộc bàn phía dưới bàn thu ngân. Sáng ngày 26/10/2023, chị Nguyễn Hồng Đan Trâm (sinh năm 2000; HKTT: tổ 43, khu phố D, phường Thanh Hải, thành phố Phan Thiết, là nhân viên của quán) đến quán cà phê P làm việc thì phát hiện bị mất số tiền 10.253.000 đồng trên nên đã gọi điện thoại thông báo cho chị K biết. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/11/2023, chị K đến Công an phường Hưng Long trình báo sự việc.
Qua xác minh, Cơ quan Công an xác định B là người đã lấy trộm tiền tại quán cà phê P nên đã triệu tập B làm việc, quá trình điều tra, B khai nhận hành vi của mình như trên.
Vật chứng của vụ án:
01 thẻ nhớ micro SD, phía trên mặt thẻ nhớ có các thông tin micro SD 2GB lưu trữ 01 tập tin video có tên "Trộm ngày 27.10.2023", định dạng MP4, dung lượng 14,1MB, thời lượng 03 phút 40 giây, ghi lại hình ảnh B thực hiện hàn vi trộm cắp tài sản ngày 27/10/2023 tại quán cà phê P.
Vật chứng của vụ án: số tiền 10.253.000 đồng không thu hồi được.
Xử lý vật chứng và dân sự:
01 thẻ nhớ micro SD lưu trữ 01 tập tin video ghi lại hình ảnh B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại quán cà phê P, lưu hồ sơ phục vụ xét xử.
Chị Đỗ Vũ Hoàng G (sinh năm 1982, HKTT: khu phố 3, phường X, thành phố P) làm quản lý quán cà phê P, là người chịu trách nhiệm quản lý tài sản của quán tại thời điểm B lấy trộm tài sản đã trả cho chị Bùi Thanh Th (chủ quán) số tiền 10.253.000 đồng. Chị Thùy yêu cầu Trịnh Ngọc B bồi thường số tiền 10.253.000 đồng cho chị Thùy. Hiện B đã bồi thường cho chị Thùy 2.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 15/11/2023, Trịnh Ngọc B đi bộ trên các tuyến đường thuộc phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến số nhà 192 đường Võ Thị Sáu thuộc khu phố 4, phường Hưng Long thì B thấy cửa nhà chỉ khép hờ không khóa nên B lén lút đột nhập vào nhà thấy anh Nguyễn Tấn Ph (sinh năm 1999; HKTT: khu phố 1, phường Th, thành phố P) đang nằm ngủ, trên bàn gần đó có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu gold. B lấy trộm điện thoại bỏ vào túi quần phải rồi tẩu thoát. Sau đó, B đi đến khu vực chợ Phan Thiết thuộc phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết gặp một thanh niên (không rõ nhân thân) rồi bán điện thoại di động trên với giá 500.000 đồng. Số tiền bán điện thoại, B đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 08 giờ ngày 15/11/2023, Ph thức dậy thì phát hiện điện thoại di động bị mất. Ngày 29/11/2023, Ph đến Công an phường Hưng Long trình báo sự việc.
Qua xác minh, Cơ quan Công an xác định B là người đã lấy trộm điện thoại của anh Ph nên đã triệu tập B làm việc. Quá trình điều tra, B khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Vật chứng của vụ án:
01 thẻ nhớ hiệu Potevio dung lượng 1GB lưu trữ đoạn video có dung lượng 10,63MB, thời lượng 42 giây ghi lại hình ảnh B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 15/11/2023 tại nhà của anh Nguyễn Tấn Ph.
01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu gold, không thu hồi được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự UBND thành phố Phan Thiết: Điện thoại di động hiệu Iphone XS màu Gold 64GB, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường trị gía 2.500.000 đồng.
Xử lý vật chứng và dân sự:
01 thẻ nhớ Potevio có lưu trữ đoạn video ghi lại hình ảnh B thực hiện hành vi trộm cắp ngày 15/11/2023 tại nhà của anh Nguyễn Tấn Ph được lưu trữ hồ sơ vụ án để phục vụ xét xử.
Anh Nguyễn Tấn Ph không yêu cầu Trịnh Ngọc B bồi thường về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 366/CT – VKSPT - HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Trịnh Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 01 Điều 173; điểm g khoản 01 Điều 52; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo B mức án từ 09 đến 12 tháng tù và đề nghị biện pháp tư pháp về bồi thường thiệt hại.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.
Bị cáo nói lời nói sau cùng xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 27/10/2023 đến ngày 15/11/2023, bị cáo Trịnh Ngọc B đã hai lần trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Phan Thiết.
Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 27/10/2023, tại quán cà phê P trên đường Nguyễn Tất Thành thuộc khu phố 7, phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết, Trịnh Ngọc B và thanh niên tên Huy (không rõ nhân thân) lấy trộm số tiền 10.253.000 đồng của bà Bùi Thanh Th.
Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 15/11/2023, tại số nhà 192 đường Võ Thị Sáu thuộc khu phố 4, phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết, Trịnh Ngọc B đã lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max trị giá 2.500.000 đồng của ông Nguyễn Tấn Ph.
Do đó, Bản cáo trạng số 366/CT-VKSPT - HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Trịnh Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy, bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của người khác, thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo 2 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 01 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tiền sự: Ngày 23/8/2023, bị Ủy ban nhân dân phường Lạc Đạo, thành phố Phan Thiết xử phạt 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 174/QĐ-XPVPHC, hiện chưa nộp phạt.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, xét thấy bị cáo có nhân thân xấu nên cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.
[5] Biện pháp tư pháp:
Bị hại Nguyễn Tấn Ph không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
Bị hại Bùi Thanh Th đã nhận lại đủ số tiền 10.253.000 đồng từ bà Đỗ Hoàng Vũ Q không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
Bà Đỗ Hoàng Vũ Q có đơn xin xử vắng mặt thể hiện bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 8.253.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo B đồng ý bồi thường cho bà Q.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra – công an thành phố Phan Thiết đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sỡ hữu là đúng theo quy định pháp luật.
Đối với người tên Huy cùng thực hiện trộm cắp tài sản cùng với Trịnh Ngọc B vào ngày 27/01/2023, do không rõ nhân thân nên cơ quan điều tra sẽ làm rõ xử lý sau là có cơ sở.
[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
*Căn cứ: khoản 01 Điều 173; điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.
*Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.
*Xử phạt: Bị cáo Trịnh Ngọc B 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/10/2024.
*Biện pháp tư pháp:
- Bồi thường dân sự:
Áp dụng: Điều 584, Điều 589, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Bị cáo Trịnh Ngọc B bồi thường cho bà Đỗ Hoàng Vũ Q số tiền là 8.253.000 đồng (tám triệu hai trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
* Về án phí: aùp duïng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Bị cáo Trịnh Ngọc B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 413.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/01/2025). Quyền kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.
| Nơi nhận - VKSND thành phố Phan Thiết; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND tỉnh Bình Thuận; - Công an thành phố Phan Thiết; - Người tham gia tố tụng; - UBND địa phương nơi b/c thường trú; - Thi hành án thành phố Phan Thiết; - Lưu hồ sơ. | TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |