vanban.org

Bản án 43/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 31/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Nguyễn Pc B và Nguyễn Ngọc T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Đặng Nguyễn Pc B 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 21/8/2024. Xử phạt: Nguyễn Ngọc T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Nguyễn Phúc B, Nguyễn Ngọc T - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc (điều 238 Bộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Nguyễn Pc B và Nguyễn Ngọc T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST
Ngày: 31/3/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Minh Trinh

Ông Nguyễn Văn Sanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tới - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 06/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 17/3/2025 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Đặng Nguyễn Pc B; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 22/7/1980; tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTTT và chổ ở: K176/205 Đường T, phường Phước N, quận Hải C, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Hồng T (sinh năm: 1950) và bà: Nguyễn Thị B (sinh năm: 1954) đều còn sống; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ đã ly hôn; Có 02 con, con lớn sinh năm: 2007; con nhỏ sinh năm 2010.

Tiền sự: Ngày 20/9/2022 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 28/QĐ-TA, thời hạn 21 tháng.

Nhân thân:

- Ngày 27/12/1997 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, theo Quyết định số 5314/QĐ-UB.

- Ngày 24/8/2006 Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp T sản” theo bản án 61/2006/HSST.

- Ngày 28/6/2013, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng xử phạt 3 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2013/HSST.

- Ngày 27/12/2018, Tòa án nhân dân quận Hải Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 63/QĐ-TA với thời hạn 18 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/8/2024; tạm giam ngày 30/8/2024; hiện đang tạm giam có mặt tại phiên tòa.

Họ và tên: Nguyễn Ngọc T; Tên gọi khác: không; sinh ngày 28/02/1991; tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 28, phƣờng N, quận C, TP Đà Nẵng. Chỗ ở hiện nay: Số 40 B Hòa 1, phƣờng T, quận L, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông;

- 1 -

Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc T (sinh năm: 1964 đã chết) và bà: Nguyễn Thị T (sinh năm: 1968, còn sống); Là con duy nhất trong gia đình; Chưa có vợ, con.

Tiền sự: Ngày 24/4/2023 bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 14/QĐ-TA, thời hạn 15 tháng.

Nhân thân:

- Ngày 05/11/2020 Sử dụng trái phép chất ma túy, UBND phường Khuê Trung ra Quyết định số 368/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường.

- Ngày 03/02/2021 bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 02/QĐ-TA, thời hạn 12 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/8/2024; tạm giam ngày 30/8/2024; hiện đang tạm giam có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Võ Văn D, sinh năm: 1986; Địa chỉ: K151/82/34/8 C, phường B, quận C, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Hoàng Trọng P, sinh năm: 1989; K62/01 T, phường X, TP H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

+ Ông Võ Duy Q, sinh năm: 1991 Địa chỉ: Số 134 T, phường Đ, quận T, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Lê Đ, sinh năm: 1986, Địa chỉ: Tổ 53, phường A, quận K, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Đặng Ngọc D, sinh năm: 1971 Địa chỉ: K101/23 C, tổ 44 phường M, quận T, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Bà Đặng Thị Nguyên Hương S, sinh năm: 1981 Địa chỉ: K176/205 Đường T, phường Phước N, quận Hải C, TP Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Các bị cáo Đặng Nguyễn Pc B và Nguyễn Ngọc T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 09 giờ 50 ngày 21/8/2024, tại trước nhà số K176/205 Đường T, phường Phước N, quận Hải C, TP. Đà Nẵng, Lực lượng Công an quận Hài Châu phát hiện Nguyễn Ngọc T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 43AE-032.30 chở theo sau Đặng Nguyễn Pc B có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng phương tiện để kiểm tra. Qua đó, phát hiện bắt quả tang:

- Trong túi quần phía trước, bên phải của B có 01 gói thuốc White Horse chứa 01 gói giấy Đ quần lại, bên trong có 02 cục chất bột màu trắng.

- Trong túi quần phía trước, bên trái của B có 01 hộp thuốc nhỏ mắt có chữ VROTHO, bên trong chứa: 01 gói giấy Đ quấn lại, mở ra bên trong có 01 cục chất bột rắn màu trắng, 01 gói nilong kích thước (11 x 7)cm chứa 08 gói giấy Đ quấn lại, mở ra bên trong đều có chất bột rắn màu trắng. Tất cả Đ niêm phong ký hiệu A.

B khai nhận các chất bột rắn thu giữ Đ đều là ma túy Heroin của B, mục đích để bán kiếm lời. T biết về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của B, phụ giúp B mua bán ma túy.

Vật chứng thu giữ:

- 2 -

Tất cả số ma túy thu Đ nêu trên, niêm phong ký hiệu A.

- 01 (một) xe máy Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số: 43AE - 032.30, số máy: JK14E0075546, số khung: RLHJK1407NZ044336 (xe này B mua tại cửa hàng xe máy Lê Đ, địa chỉ 66 Lê Độ, quận T Khê, thành phố Đà Năng và đang làm thủ tục sang tên cho B).

- 01 (một) điện thoại di động màu tím - đen, Imei: 355001769763706, gắn sim số: 0934937940 của Đặng Nguyễn Pc B.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc, Imei: 352799082231846, gắn sim số 0933.090.175 của Nguyễn Ngọc T.

* Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của B:

- Tại K176/205 Đường T, phường Phước N, quận Hải C, TP Đà Nẵng, thu giữ trong tủ gỗ tại phòng ngủ của B:

+ Bên trong 01 hộp giấy màu đen, kích thước ( 8 *5,5*2) cm có 01 gói giấy Đ quấn lại kích thước ( 2 *1,5) cm, mở ra bên trong bột rắn màu trắng, tiến hành niêm phong ký hiệu B.

+ 01 gói nilong màu bạc kích thước ( 26 *17,5) cm, bên trong có chứa 19 tờ giấy kích thước (5*4,5) cm + 01 cuốn sách hướng dẫn dinh dưỡng, có mặt sau màu tím in chữ Abbott kích thước (27 * 14) cm, bề mặt có bám dính chất bột màu trắng, bên trên bìa màu tím có 02 lưỡi lam có chữ London, kích thước ( 4 ,3*2,3) cm. Tiến hành niêm phong ký hiệu B.

- Tại Phòng B4 địa chỉ K101/23 Phó Đức Chính, phường Mân Thái, quận S Trà, TP. Đà Nẵng, thu giữ tại bàn dưới chân cầu thang:

+ 01 hộp bằng kim loại màu vàng, có đường kính 07cm, bên trong có chứa 01 bao nilong dạng túi zip trong suốt, chứa tinh thể rắn màu trắng. Tiến hành niêm phong ký hiệu C. Đây là ma túy B cất giấu để sử dụng.

+ 01 hộp giấy màu hồng có chữ Treechada, kích thước (7 * 7 * 6) * cm bên trong chứa 20 tờ giấy Đ cắt thành kích thước (4 * 4) * cm.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy: B và T dương tính với ma túy.

* Theo Kết luận giám định số 686/KL-KTHS ngày 27/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, kết luận:

- Chất bột dạng cục màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A, B gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng mẫu A: 4,798 gam; B: 0,325 gam.

- Chất màu trắng bám dính trên bề mặt cuốn sách hướng dẫn dưỡng sinh có chữ "Abbott” và 02 lưỡi lam có chữ “LONDON" trong bì niêm phong ký hiệu B gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine.

- Chất tỉnh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu C gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,0311 gam.

- Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau khi trích làm giám định và toàn bộ vỏ bao gói Đ hoàn lại.

Căn cứ Điều 4 Chương II của Nghị Định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, tỉnh khôi lượng, chất ma túy (Heroine) của B mua bán như sau: Heroine A: 4,798 gam + B: 0,325 gam = 5,123 gam. Tổng khối lượng chất ma túy B mua bán thuộc điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Đối với ma tùy loại Methamphetamine, khối lượng 0,0311 gam thu giữ tại

- 3 -

Phòng B4 địa chỉ K101/23 Phó Đức Chính, phường Mân Thái, quận S Trà, TP Đà Nẵng là B mua của một người tên Thùy (không rõ lai lịch) vào ngày 20.8.2024 với giá 500.000 đồng cất giấu để sử dụng.

Biên bản kiểm tra điện thoại Samsung gắn sim số 0934.937.940 của Đặng Nguyễn Pc B với các số thuê bao:

- Số thuê bao: 0777.112.115 vào ngày 21/8/2024 như sau: Có 01 cuộc gọi đi lúc 09 giờ 07' thời lượng 42 giây; Có 02 cuộc gọi đến lúc 08 giờ 47' thời lượng 35 giây, 09 giờ 22' thời lượng 15 giây.

- Số thuê bao: 0702.707.003 vào ngày 20/8/2024: Có 03 cuộc gọi đến lúc 12 giờ 57' thời lượng 07 giây; 13 giờ 12' thời lượng 04 giây; 13 giờ 23' thời lượng 06 giây; Có 01 cuộc gọi nhỡ lúc 13 giờ 22'

Quá trình điều tra, Đặng Nguyễn Pc B, Nguyễn Ngọc T khai nhận:

B bắt đầu mua bán ma túy từ tháng 7.2024 đến ngày 21.8.2024 thì bị bắt giữ. Nguồn gốc ma túy là do B liên hệ qua Telegram mua của người tên Triều (không rõ lai lịch). Sau khi mua Đ ma túy thì B xóa lịch sử giao dịch để tránh bị phát hiện. B đã mua của Triều nhiều lần để vừa sử dụng vừa bán, B đã bản nhiều lần cho nhiều người (không rõ lai lịch), B không nhớ là đã thu lợi bất chính là bao nhiêu. Trong đó, Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã xác định Đ B bán ma túy cụ thể các lần như sau:

- Bán cho Hoàng Trọng P tại khu vực ngã tư đường Phan Châu Trinh - Lê Đình Dương, thành phố Đà Nẵng vào ngày 16.8.2024 và ngày 17.8.2024, mỗi lần 500.000 đồng ma túy Heroin. Mỗi lần mua P đã sử dụng số T khoản ngân hàng Vietcombank 9777112115 có tên T khoản HOANG TRONG PHU chuyển khoản đến số T khoản ngân hàng Vietinbank 0934.937.940 với tên T khoản DANG NGUYEN PHỤC B của B.

- Vào sáng ngày 18/8/2024, Võ Văn D dùng số điện thoại 0899115009 gọi vào số 0934937940 của B để hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroin và hẹn giao ma túy tại ngã 4 Lê Đình Dương - Triệu Nữ Vương, TP Đà Nẵng. Tại đây D đưa tiền cho B và lấy ma túy về sử dụng. Tiến hành thử test ma tuý đối với Võ Văn D đã cho kết quả dương tính với Heroin.

- Vào khoảng 14 giờ ngày 20/8/2024, có người đàn ông tên Xíu (không rõ lai lịch) số điện thoại 0702.707.003 gọi đến số điện thoại của B 0934.937.940 hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroin thì B đồng ý bán và B hẹn giao dịch tại đường Lê Đình Dương, thành phố Đà Nẵng, tại đây Xíu đưa tiền mặt cho B và lấy ma túy. Cơ quan công an đã làm rõ người đăng ký số điện thoại 0702.707.003 là Hà Nam Phát (sinh năm: 1971, HKTT: Tổ 51 phường Hòa Khê, quận T Khê, thành phố Đà Nẵng) nên đã tiến hành gửi giấy triệu tập. Tuy nhiên, Hà Nam Phát không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập. Tiến hành xác mình, Công an phường Hòa Khê cung cấp ông Hà Nam Phát có hộ khẩu thường trú tại tổ 51 phường Hòa Khê, quận T Khê, thành phố Đà Nẵng. Hiện Hà Nam Phát không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ.

Vào ngày 18/8/2024, B có rủ T qua ở chung với B tại Phòng B4 nhà trọ số K101/23 Phó Đức Chính, TP Đà Nẵng thì T đồng ý. Khi sống cùng với B thì T biết B thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần cho nhiều người, để Đ B cho tiền tiêu xài và ăn uống, T đã giúp sức cho B bán ma túy 02 lần, cụ thể như sau:

- Lần 1: Khoảng 09 giờ ngày 20/8/2024, B và T đang ở phòng trọ thì có T niên (không rõ lai lịch) gọi cho B hỏi mua 300.000 đồng ma túy Heroin và hẹn giao tại

- 4 -

đường Lê Duẩn, dưới chân cầu sông Hàn, TP Đà Nẵng, B đồng ý bán. Sau đó, B chở T đi giao ma túy, T ngồi sau cảnh giới cho B, khi đên nơi người này đưa tiền mua ma túy trực tiếp cho B.

- Lần 2: Khoảng 08 giờ 45 ngày 21/8/2024, Hoàng Trọng P dùng số điện thoại số 0777.112.115 tiếp tục gọi cho B hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroin, hẹn giao tại đường Phan Châu Trinh - Lê Đình Dương, B đồng ý. Sau đó, B điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 43AE-032.30, chở T ngồi sau để cảnh giới đến giao ma túy cho P, P đã chuyển khoản cho B như hai lần mua trước.

Do hết ma túy để bán tiếp, B liên hệ qua Telegram với Triều để hỏi mua 7.000.000 đồng ma túy Heroin. B chở T đến ngã tư đường Lê Đình Dương Triệu Nữ Vương để lấy ma túy. Khi đến nơi B có gặp một người điều khiển xe Wave (không rõ biển số), B có đưa cho người này số tiền 7.000.000 đồng thì người này lấy tiền rồi rời đi, tiếp đó có 01 người điều khiển xe mô tô (không rõ loại xe, biển số) đi qua và vứt ma túy Đ đựng trong 01 hộp thuốc nhỏ mắt VROTHO xuống lề đường cho B tự nhặt, B mở ra kiểm tra thì bên trong có: 01 gói giấy chứa 01 cục ma túy heroin, 01 gói giấy chứa 02 cục ma túy heroin và 01 gói nilong chứa 08 gói giấy Đ quấn lại bên trong đều chứa ma túy heroin. B phân ma túy ra bỏ vào 02 bên túi quần rồi nói T điều khiển xe về tại nhà số K176/205 Đường T, phường Phước N, quận Hải C, TP. Đà Nẵng để phân chia ma túy bán kiếm lời. Khi mang ma túy trên đường về thì bị Lực lượng Công an quận Hải Châu phát hiện, bắt quả tang như trên. Việc giao dịch mua ma túy này của B với Triều thì T không biết vì khi đi đến gặp người bán ma túy thì B bảo T đứng xa, B một mình đi bộ lại gặp và trao đổi mua ma túy.

Với nội dung trên, tại cáo trạng số 10/CT-VKS, ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Đặng Nguyễn Pc B về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Ngọc T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đặng Nguyễn Pc B và Nguyễn Ngọc T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", đồng thời:

Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Nguyễn Pc B từ 09 (chín) năm đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bì giấy Đ dán kín bên trong chứa: 01 cuốn sách hướng dẫn đĩnh đường có chữ About và 02 (hai) lưỡi lam có chữ "LONDON" Đ niêm phong bằng hình dấu đỏ phòng Kỹ thuật hình sự, chữ ký bên giao, nhận.

+ 01 (một) bì giấy Đ dán kín, ký hiệu A chứa 3,876 gam chất bột màu trắng và toàn bộ vô bao gói mẫu.

+ 01 (một) bì giấy Đ dán kín, ký hiệu B chứa 0,191 gam chất bột rắn màu trắng.

+ 01 (một) bì giấy Đ dán kín, ký hiệu C chứa toàn bộ vỏ bao gói mẫu.

Toàn bộ ma tuý và bao gói nêu trên đều là vật chứng của vụ án.

- 5 -

- Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 (một) xe moto (loại xe 2 bánh) nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đỏ đen gắn biển kiểm soát 43/AE-032.30; số khung: RLHJK1407NZ044336; số máy: JK14E0075546, dung tích 125cc của Đặng Nguyễn Pc B là phương tiện B dùng để đi mua bán ma tuý.

+ 01 (một) điện thoại màu tím đen, Imei: 355001769763706 gắn sim số 0934.937.940 của Đặng Nguyễn Pc B do bị cáo liên lạc để mua bán ma tuý.

+ 01 (một) điện thoại Iphone màu bạc, số Imei: 352799082231846 gắn sim số: 0933.090.175 của Nguyễn Ngọc T do bị cáo liên lạc để mua bán ma tuý.

Tại phiên tòa các bị cáo Đặng Nguyễn Pc B và Nguyễn Ngọc T đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Nguyễn Pc B và Nguyễn Ngọc T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập ngày 21/8/2024, cùng với lời khai nhận tội của các bị cáo và kết luận giám định phù hợp với các chứng cứ, T liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, xác định:

Do cần tiền tiêu xài nên từ tháng 7/2024, Đặng Nguyễn Pc B mua ma túy Heroin của người tên Triều (không rõ lai lịch) nhiều lần, về chia thành nhiều gói nhỏ để vừa sử dụng và bán cho nhiều người. Kết quả chứng minh Đ B bán cho Hoàng Trọng P 03 lần vào các ngày 16/8/2024, 17/8/2024, 21/8/2024, mỗi lần 500.000 đồng ma túy Heroin. Bán cho Võ Văn D 500.000 đồng ma túy Heroin vào sáng ngày 18/8/2024. Bán cho người đàn ông tên Xỉu (không rõ lai lịch) 500.000 đồng ma túy Heroin. Bán cho T niên (không rõ lai lịch) ngày 20/8/2024 số tiền 300.000 đồng ma túy Heroin.

Nguyễn Ngọc T giúp B bán ma túy cho Hoàng Trọng P 500.000 đồng ma túy Heroin vào ngày 21.8.2024. Bán cho T niên (không rõ lai lịch) 300.000 đồng ma túy Heroin vào ngày 20/8/2024 tại phường Phước Ninh, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng thì Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu bắt quả tang, thu giữ 5,123 gam ma túy Heroin.

Tại Kết luận giám định số 686/KL-KTHS ngày 27/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, kết luận:

Chất bột dạng cục màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A, B gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng mẫu A: 4,798 gam; B: 0,325 gam. Tổng bì niêm phong ký hiệu A và B là 5,123 gam ma túy

- 6 -

Heroin.

Chất màu trắng bám dính trên bề mặt cuốn sách hướng dẫn dưỡng sinh có chữ "Abbott” và 02 lưỡi lam có chữ “LONDON" trong bì niêm phong ký hiệu B gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine.

Chất tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu C gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,0311 gam.

Căn cứ Điều 4 Chương II của Nghị Định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, tính khối lượng, chất ma túy (Heroine) của B mua bán như sau: Heroine A: 4,798 gam + B: 0,325 gam = 5,123 gam.

Như vậy, tổng khối lượng chất ma túy B mua bán thuộc điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán nên các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quy định của nhà nước về quyền quản lý các chất ma tuý, gây mất ổn định tình hình trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ, lao động, học tâp của con người, đây là loại tội phạm nghiêm trọng, gây nguy hại lớn và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Chính tác hại đó mà pháp luật nghiêm cấm và nghiêm khắc trừng trị loại tội phạm này.

Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo B là người trực tiếp liên lạc với Triều (chưa rõ nhân thân lai lịch) để lấy ma tuý về chia thành nhiều gói nhỏ bán cho người mua. B là người chủ động rủ T qua ở chung với B và nhờ T chở đi đưa ma tuý cho người mua nên bị cáo B là người chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

Đối với T đã biết rỏ B mua bán ma tuý nhưng khi B rủ chở đi đưa ma tuý thì T đồng ý và đã giúp sức chở B đi đưa ma tuý hai lần nên T là vai trò thứ yếu, do đó mức hình phạt của T thấp hơn bị cáo B là có căn cứ.

Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo B có bố là ông Đặng Hồng T Đ tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3 nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo B và T đều có tiền sự; các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo B tháng 12/1997 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáp dưỡng thời hạn 24 tháng; Năm 2006 bị Toà án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp T sản”; Năm 2013 bị Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ TP Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Năm 2018 bị Toà án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng; Bị cáo Nguyễn Ngọc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị UBND phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã Phường; Năm 2021 bị Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sỡ cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Do đó, đối với các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm và cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo sớm trở thành một công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

- 7 -

Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về tội danh và các điều luật áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Cần tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án gồm:

- 01 (một) bì giấy Đ dán kín bên trong chứa: 01 cuốn sách hướng dẫn đĩnh đường có chữ About và 02 (hai) lưỡi lam có chữ "LONDON" Đ niêm phong bằng hình dấu đỏ phòng Kỹ thuật hình sự, chữ ký bên giao, nhận.

- 01 (một) bì giấy Đ dán kín, ký hiệu A chứa 3,876 gam chất bột màu trắng và toàn bộ vỏ bao gói mẫu.

- 01 (một) bì giấy Đ dán kín, ký hiệu B chứa 0,191 gam chất bột rắn màu trắng.

- 01 (một) bì giấy Đ dán kín, ký hiệu C chứa toàn bộ vỏ bao gói mẫu.

Cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước gồm:

- 01 (một) xe moto (loại xe 2 bánh) nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đỏ đen gắn biển kiểm soát 43/AE-032.30; số khung: RLHJK1407NZ044336; số máy: JK14E0075546, dung tích 125cc của Đặng Nguyễn Pc B là phương tiện B dùng để đi mua bán ma tuý.

- 01 (một) điện thoại màu tím đen, Imei: 355001769763706 gắn sim số 0934.937.940 của Đặng Nguyễn Pc B do bị cáo liên lạc để mua bán ma tuý.

- 01 (một) điện thoại Iphone màu bạc, số Imei: 352799082231846 gắn sim số: 0933.090.175 của Nguyễn Ngọc T do bị cáo liên lạc để mua bán ma tuý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của B và T, Cơ quan Công an quận Hải Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

Hành vì Tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng với khối lượng là 0,0311 gam ma túy Methamphetamine của B, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Công an quận Hải Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đùng quy định pháp luật.

Người T niên tên Triều bán ma túy cho B, người tên Xíu và những người mua ma túy khác của B hiện nay chưa xác định Đ lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với ông Nguyễn Đăng Ngọc D là chủ nhà trọ B4, K101/23 Phó Đức Chính, phường Mân Thái, quận S Trà, TP. Đà Nẵng không biết việc B cất giấu ma túy tại phòng trọ nên không đề cập xử lý là có căn cứ.

Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 251 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Nguyễn Pc B và Nguyễn Ngọc T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Đặng Nguyễn Pc B 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 21/8/2024.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính

- 8 -

từ ngày bắt tạm giữ, ngày 21/8/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

2.1. Tuyên: Tịch thu tiêu hủy gồm:

2.1.1. 01 (một) bì giấy Đ dán kín bên trong chứa: 01 cuốn sách hướng dẫn đĩnh đường có chữ About và 02 (hai) lưỡi lam có chữ "LONDON" Đ niêm phong bằng hình dấu đó phòng Kỹ thuật hình sự, chữ ký bên giao, nhận.

2.1.2. 01 (một) bì giấy Đ dán kín, ký hiệu A chứa 3,876 gam chất bột màu trắng và toàn bộ vô bao gói mẫu.

2.1.3. 01 (một) bì giấy Đ dán kín, ký hiệu B chứa 0,191 gam chất bột rắn màu trắng.

2.1.4. 01 (một) bì giấy Đ dán kín, ký hiệu C chứa toàn bộ vỏ bao gói mẫu.

2.2. Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước gồm:

2.2.1. 01 (một) xe moto (loại xe 2 bánh) nhân hiệu Honda AirBlade, màu đỏ đen gắn biển kiểm soát 43/AE-032.30; số khung: RLHJK1407NZ044336; số máy: JK14E0075546, dung tích 125cc của Đặng Nguyễn Pc B.

2.2.2. 01 (một) điện thoại màu tím đen, Imei: 355001769763706 gắn sim số 0934.937.940 của Đặng Nguyễn Pc B.

2.2.3. 01 (một) điện thoại Iphone màu bạc, số Imei: 352799082231846 gắn sim số: 0933.090.175 của Nguyễn Ngọc T.

(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang Đ tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 01 năm 2025).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016, ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Đặng Nguyễn Pc B và Nguyễn Ngọc T mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Hải Châu;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

- VKSND TP Đà Nẵng;

- Phòng HSNV Công an TP Đà Nẵng;

- Cơ quan THAHS q.Hải Châu;

- Chi cục THADS q.Hải Châu;

- Tòa án NDTP Đà Nẵng;

- Bị cáo;

Lƣu Thị Hằng

- Lưu hồ sơ vụ án.

- 9 -

Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Hải Châu;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

- VKSND TP Đà Nẵng;

- Phòng HSNV Công an TP Đà Nẵng;

- Cơ quan THAHS q.Hải Châu;

- Chi cục THADS q.Hải Châu;

- Tòa án NDTP Đà Nẵng;

- Bị cáo;

Lƣu Thị Hằng

- Lưu hồ sơ vụ án.

- 10 -

Cỡ chữ