- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Diễm Thúy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày: 16-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Vân
2. Ông Trịnh Hồng Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Ngà – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HSST-QĐ ngày 19/8/2025 đối với bị cáo:
Lê Thị Diễm T, sinh ngày 18 tháng 3 năm 1987, tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); Số CCCD: 082187004879, cấp ngày 17/02/2023, Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính - trật tự xã hội; Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã K, tỉnh Đồng Tháp); Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; T: Không; Q: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1 và bà Lâm Thị Liễu T2; Bị cáo có chồng tên Nguyễn Thanh T3, có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2025; Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự.
- Ngày 01/7/2024 bị Công an xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
Nhân thân:
- Ngày 11/9/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST;
- Ngày 09/12/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 15 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2024/HS-ST (tổng hợp hình phạt 06 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST);
- Ngày 09/4/2025, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST (tổng hợp hình phạt 15 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2024/HS-ST);
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam A – Cục C – Bộ C1, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Trần Ngọc D, sinh năm 1989; Số CCCD: 083189011092, cấp ngày 09/12/2022, Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính - trật tự xã hội; Nơi cư trú: Số F, ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre). (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)
2. Đặng Công K, sinh năm 1983; Số CCCD: 083083021606, cấp ngày 15/9/2022, Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính - trật tự xã hội; Nơi cư trú: Số C, khu phố P, phường P, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre) (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Quốc V, sinh năm 1985; Số CCCD: 082085023850, cấp ngày 30/8/2021, Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính - trật tự xã hội; Nơi cư trú: Số C đường N, phường T, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang). (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 24/9/2024, Lê Thị Diễm T điều khiển xe mô tô biển số 63S8-1343 đến tiệm bán gạo của bà Trần Ngọc D, thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long) để mua gạo. Khi vào tiệm, T thấy không người trông coi, quan sát xung quanh phát hiện một điện thoại di động để trên bàn nên nảy sinh ý định lấy trộm. Ngay sau đó, T lén lút đến lấy điện thoại cất giấu vào người và điều khiển xe mô tô tẩu thoát về hướng bến phà R cũ. Trên đường về, T mang điện thoại vừa trộm được bán cho Nguyễn Quốc V, sinh năm 1985, nơi cư trú: đường N, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang được 1.950.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Bà D sau khi về nhà phát hiện mất điện thoại nên trình báo Công an xã T để được giải quyết. Tiến hành trích xuất camera, Công an xã T xác định đối tượng có đặc điểm giống Lê Thị Diễm T nên mời về làm việc.
Vật chứng thu giữ: một điện thoại di động Iphone 14 Plus, một xe mô tô nhãn hiệu WANA màu đỏ, biển số 63S8-1343; một đoạn video có thời lượng 04 phút 33 giây, thời gian trong video thể hiện ngày 24/9/2024 vào lúc 08 giờ 24 phút 44 giây và kết thúc lúc 08 giờ 29 phút 17 giây ngày 24/9/2024.
Tại kết luận định giá tài sản số 1988/KL-HĐĐG ngày 05/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C, tỉnh Bến Tre kết luận: một điện thoại di động Iphone 14 Plus màu tím trị giá 17.032.000 đồng.
Cáo trạng số 36/CT-VKSCT ngày 26/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long) truy tố bị cáo Lê Thị Diễm T về “Tội Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Thị Diễm T từ 09 tháng đến 15 tháng tù. Tổng hợp hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.
Trách nhiệm dân sự:
- Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu tím và bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác.
- Ghi nhận bị cáo đã trả lại cho ông Nguyễn Quốc V số tiền 1.950.000 đồng và ông V không có yêu cầu gì khác.
Về xử lý vật chứng:
- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đã trả lại 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu tím cho bà Trần Ngọc D xong.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước một xe mô tô nhãn hiệu WANA màu đỏ, biển số 63S8-1343 của bị cáo;
- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa ghi hình chứa đoạn video có thời lượng 04 phút 33 giây, thời gian trong video thể hiện ngày 24/9/2024 vào lúc 08 giờ 24 phút 44 giây và kết thúc lúc 08 giờ 29 phút 17 giây ngày 24/9/2024.
Tại biên bản làm việc ngày 09/6/2025, bị hại Trần Ngọc D, Đặng Công K1 trình bày: Đối với tài sản bị chiếm đoạt đã nhận lại xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm; về trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại có yêu cầu vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Quốc V vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử và đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với biên bản sự việc và các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở xác định: Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 24/9/2024, tại nhà bà Trần Ngọc D thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long), bị cáo Lê Thị Diễm T có hành vi lén lút lấy trộm một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus của bà Trần Ngọc D có giá trị theo định giá là 17.032.000 đồng.
Hành vi của bị cáo là hành vi cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Lê Thị Diễm T đã phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long) truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Trên thực tế, bị cáo đã thực hiện xong hành vi trộm cắp tài sản như ý định của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nên cần phải được xử lý nghiêm và kịp thời.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mặc dù đã bị xử lý vi phạm hành chính, bị Tòa án đưa ra xét xử về hành vi trộm cắp tài sản thể hiện bản tính xem thường pháp luật, khó cải tạo giáo dục của bị cáo. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản đã được thu hồi); bị cáo tự nguyện bồi thường tiền bán điện thoại cho ông V; bị cáo có con nhỏ chưa thành niên; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội cùng với nhân thân xấu, bản tính xem thường pháp luật của bị cáo nên cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử bị cáo về “Tội trộm tài sản” đã có hiệu lực pháp luật và có Quyết định thi hành án phạt tù số 34/2025/QĐ-CA ngày 04/6/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (hình phạt 02 năm 06 tháng tù) nên cần tổng hợp với hình phạt trong vụ án này buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trách nhiệm dân sự:
- Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu tím và bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên ghi nhận.
- Bị cáo đã trả lại cho ông Nguyễn Quốc V số tiền 1.950.000 đồng và ông V không có yêu cầu gì khác nên ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V) đã trả lại 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu tím cho bà Trần Ngọc D xong nên ghi nhận.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu WANA màu đỏ, biển số 63S8-1343 quá trình điều tra xác định bị cáo đã mua lại từ cửa hàng mua bán xe cũ Đặng Quang V1. Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, được bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 đĩa ghi hình chứa đoạn video có thời lượng 04 phút 33 giây, thời gian trong video thể hiện ngày 24/9/2024 vào lúc 08 giờ 24 phút 44 giây và kết thúc lúc 08 giờ 29 phút 17 giây ngày 24/9/2024 thể hiện sự việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Quốc V mua lại điện thoại do bị cáo đến bán nhưng ông V không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, ông V đã tự nguyện giao nộp lại điện thoại cho Cơ quan điều tra nên không xử lý là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Diễm T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Diễm T 09 (chín) tháng tù.
[2] Căn cứ vào Điều 55, Điều 56 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” trong vụ án này với hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Buộc bị cáo Lê Thị Diễm T chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/12/2024.
[3] Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 589; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Trách nhiệm dân sự:
- Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu tím và bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác.
- Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho ông Nguyễn Quốc V số tiền 1.950.000 đồng và ông V không có yêu cầu gì khác.
[4] Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Xử lý vật chứng:
- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V) đã trả lại 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu tím cho bà Trần Ngọc D xong.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu WANA màu đỏ, biển số 63S8-1343.
- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa ghi hình chứa đoạn video có thời lượng 04 phút 33 giây, thời gian trong video thể hiện ngày 24/9/2024 vào lúc 08 giờ 24 phút 44 giây và kết thúc lúc 08 giờ 29 phút 17 giây ngày 24/9/2024.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/04/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V) với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5-Vĩnh Long)
[5] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Thị Diễm T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long (1b); - VKSND tỉnh Vĩnh Long (1b); - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Long (1b); - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Vĩnh Long (1b); - STP tỉnh Vĩnh Long (1b); - VKSND khu vực 5-Vĩnh Long (1b); - Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long (1b); - UBND xã Kim Sơn, tỉnh Đồng Tháp (1b); - Những người tham gia tố tụng (3b); - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Minh Hiền |