- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn T - Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2025/HS-PT Ngày 22-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán:Ông Bùi Thái Hùng
Ông Hoàng Trí Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Đài Trang – Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia
phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLPT-HS ngày
16 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Tấn T do có kháng cáo của bị cáo
đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024
của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Tấn T, sinh năm 1981 tại Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp B, xã H,
thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa:
6/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn L (sinh năm 1953) và bà Nguyễn Thị Kim A (sinh năm
1953); Vợ là Trần Thị Minh H (sinh năm 1984) và 02 con, lớn nhất sinh năm
2007, nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo khác, người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan, người làm chứng nhưng không kháng cáo và không liên quan đến
kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 ngày 27/01/2024, Dương Việt C và vợ là Huỳnh Thị Bích N đến quán cafe của bà Trang Thị Mỹ H1 trên đường C, khu phố D, phường L, thành phố B để uống nước. Lúc này, Nguyễn Tấn T đang tổ chức tất niên ăn nhậu tại đường C đối diện quán nước nhà bà H1 thì phát hiện ông Trịnh Xuân C1 đang tham gia tiệc tất niên nên Dương Việt C đến nói chuyện với Trịnh Xuân C1 về mâu thuẫn trước đó giữa ông Trịnh Xuân C1 và bà H1. Sau đó Dương Việt C quay lại quán cà phê của bà H1 thì Nguyễn Tấn T đến nói chuyện, cả hai xảy ra mâu thuẫn, T dùng tay đánh, xô xát với Dương Việt C. Thấy vậy, Nguyễn Minh H2, Ninh Thế P, Ninh Thế M đang dự tiệc tất niên chạy qua cùng với T đánh Dương Việt C, ngoài ra Nguyễn Minh H2 còn dùng 01 mũ bảo hiểm đánh vào vùng đầu của Dương Việt C, sau đó được can ngăn nên cả nhóm về lại bàn tiệc.
Dương Việt C lấy 01 con dao rựa trong quán của bà H1 chạy ra đường C nhưng được ông Phạm Thanh V căn ngăn và giật lấy con dao rựa C đang cầm đem cất. Lúc này, Nguyễn Tấn T cầm 01 đoạn cây tre xông ra nhưng được ngăn cản nên quay lại tiệc tất niên.
Dương Việt C tiếp tục cầm 01 con dao Thái Lan từ trong quán bà H1 chạy ra đường C thì Nguyễn Tấn T cầm 01 ghế nhựa từ khu vực tiệc chạy ra và cả hai xảy ra xô xát. Nguyễn Minh H2 dùng 01 ly thuỷ tinh, Ninh Thế P dùng 02 cục gạch, Ninh Thế M dùng 01 cục gạch ném về phía Dương Việt C. Các bên dùng hung khí đánh nhau gây mất an ninh trật tự, người dân đi đường hoang mang lo sợ không dám qua đoạn đường này. Lúc này, ông Nguyễn Anh T1 can ngăn Dương Việt C rồi tước con dao mà Dương Việt C đang cầm thì Nguyễn Văn T2 dùng 01 cục gạch đập 02 lần vào đầu của Dương Việt C. Sau đó, Dương Việt C được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện B.
Ngày 28/5/2024, Ủy ban nhân dân phường L có Công văn số 584/UBND-VP xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc tại đường C thuộc khu phố D, phường L, tiếp giáp đường V, đối diện khuôn viên Bệnh viện B, là nơi công cộng, thường xuyên có nhiều người và phương tiện di chuyển, đã ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân.
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 103/KLTTCT-PYBRVT ngày 14/03/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B đối với Dương Việt C kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Việt C tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm).
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 112/KLTTCT-PYBRVT ngày 25/03/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B đối với Nguyễn Tấn T kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương vết thương của Nguyễn Tấn T tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Tấn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án (Được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến ngày 12/8/2024)
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử các bị cáo khác, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 14/10/2024, bị cáo Nguyễn Tấn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Bị cáo có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Tấn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp, đúng người, đúng tội. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới đủ căn cứ để được giảm nhẹ và hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
5. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T làm và gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:
Khoảng 20 giờ ngày 27/01/2024, trên đường C thuộc khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do có mâu thuẫn nên nhóm Nguyễn Tấn T, Nguyễn Văn T2, Ninh Thế M, Ninh Thế P và Dương Việt C đã dùng hung khí là dao, rựa, ghế nhựa, gạch, ly thủy tinh…đánh nhau. Nguyễn Tấn T, Nguyễn Văn T2, Ninh Thế M và Ninh Thế P dùng gạch đánh vào vùng thái dương trái của Dương Việt C, Dương Việt C dùng dao chém vào vùng cẳng tay phải Nguyễn Tấn T, hậu quả là Dương Việt C bị thương tích 3%, Nguyễn Tấn T bị thương tích 1%. Hành vi của các bị cáo thực hiện lúc 20 giờ, tại quán ăn, tiệc tất niên và trên đường công cộng nơi diễn ra hoạt động có nhiều người, có nhiều nhà dân sinh sống gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Hành vi gây rối trật tự công cộng với việc sử dụng hung khí nguy hiểm của bị cáo Nguyễn Tấn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, các quy tắc sinh hoạt, làm việc nơi công cộng được luật hình sự bảo về, làm mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có vai trò chính cao nhất trong nhóm; mâu thuẫn giữa Việt C và Xuân C1 nhưng bị cáo là người đến cãi vã và đánh Việt C trước, từ đó phát sinh thêm mâu thuẫn giữa hai bên; trong quá trình đánh nhau bị cáo và bị cáo Việt C gây thương tích cho nhau, bị cáo bị thương tích 1%, bị cáo Việt C thương tích 3%, mặc dù hai bị cáo không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự nhưng đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi của các bị cáo gây ra khi lượng hình. Toà án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và xử phạt bị cáo T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ để được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự
Xử phạt Nguyễn Tấn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án (Được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến ngày 12/8/2024)
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT; - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Tòa án nhân dân thành phố B; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố B; - Chi cục THADS thành phố B; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Hiếu |