vanban.org

Bản án 43/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kiều D được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H. 2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 con chung tên Nguyễn Quốc D1 sinh ngày 07/5/2014 và Nguyễn Quốc V sinh ngày 04/02/2016 cho chị Nguyễn Thị Kiều D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Quốc H không… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kiều D - Nguyễn Quốc H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ ÔN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/4/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN – TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thành Luân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Chiểu

Bà Lê Thị Trúc Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trà Ôn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trung Hảo – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 409/2024/TLST – HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều D trình bày và yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều D và anh Nguyễn Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 09/11/2020. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng ý kiến về những việc trong cuộc sống gia đình, vợ chồng không còn hợp nhau. Đến tháng 6/2024 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H.

- Về con chung: Trong thời gian sống chung, vợ chồng có 02 con tên Nguyễn Quốc D1 sinh ngày 07/5/2014 và Nguyễn Quốc V sinh ngày 04/02/2016, hiện đang sống cùng với chị D.

Khi ly hôn chị D yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

*Bị đơn anh Nguyễn Quốc H đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh H không đến dự và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gởi Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều D. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị D được ly hôn với anh H; về con chung: Giao 02 con chung cho chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét; về án phí: chị D phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Kiều D khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với anh Nguyễn Quốc H; bị đơn anh H cư trú tại xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, vụ án có quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều D có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Quốc H được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt các đương sự này.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều D, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều D và anh Nguyễn Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 09/11/2020 nên hôn nhân giữa chị D và anh H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Chị D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh H; bị đơn anh H được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H không có văn bản trình bày ý kiến; Chị D và anh H kết hôn lần đầu vào ngày 03/12/2013, sau đó chị D và anh H ly hôn theo quyết định số 213/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22/10/2019 của Toà án nhân dân huyện Trà Ôn; chị D cho rằng vợ chồng không còn tình cảm, đã sống ly thân từ giữa tháng 6/2024. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh H lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị D và anh H có 02 con chung tên Nguyễn Quốc D1 sinh ngày 07/5/2014 và Nguyễn Quốc V sinh ngày 04/02/2016. Nhận thấy, theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện 02 con chung đang sống cùng với chị D; tại bản tự khai cùng để ngày 22/11/2024 của Nguyễn Quốc D1 và Nguyễn Quốc V thì D1 và V đều có nguyện vọng được sống cùng với chị D. Do đó, chị D yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị D phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều D.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kiều D được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H.

1.2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 con chung tên Nguyễn Quốc D1 sinh ngày 07/5/2014 và Nguyễn Quốc V sinh ngày 04/02/2016 cho chị Nguyễn Thị Kiều D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều D phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0011750 ngày 22/11/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn. Chị Nguyễn Thị Kiều D đã nộp đủ.

3. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Án xử công khai sơ thẩm, Tòa án báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ