- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ninh Văn Th - Dương Thị S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nịnh Văn Th được ly hôn với chị Dương Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST Ngày 12/8/2025 “Về việc tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh Nịnh Văn Th và chị Dương Thị S” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Cao Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Bích
2. Bà Dương Thị Ninh
- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Thu Hoài - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 -Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 4 năm 2025 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nịnh Văn Th, sinh năm 1985;
* Bị đơn: Chị Dương Thị S, sinh năm 1995;
Cùng địa chỉ: Thôn Tr, xã Th, tỉnh Tuyên Quang (trước đây là Thôn Tr, xã Th, huyện H, tỉnh Tuyên Quang).
(Anh Th có đơn xin xét xử vắng mặt, chị S vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nịnh Văn Th trình bày: Về quan hệ hôn nhân, anh và chị Dương Thị S có quan hệ hôn nhân hợp pháp, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th theo giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 08/9/2014. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng nhau tại thôn Trung Thành 1, xã Thành Long, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn Trung Thành 1, xã Thái Sơn, tỉnh Tuyên Quang). Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, gia đình đã khuyên nhủ, hòa giải nhưng không đạt kết quả, tình cảm ngày càng rạn nứt. Chị Dương Thị S bỏ đi làm ăn từ năm 2018 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn có trách nhiệm gì với nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng kéo dài. Vì vậy anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Dương Thị S theo quy định của pháp luật, chấm dứt tình trạng hôn nhân như hiện nay.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nịnh Văn H, sinh ngày 18/3/2016, hiện nay cháu đang ở cùng anh. Ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị S phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Anh xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần báo gọi chị Dương Thị S đến để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Sình đều không có mặt. Tòa án đã tiến hành xác minh với ông Hà Minh T, trưởng thôn Trung Thành 1, xã Thành Long (nay là xã Thái Sơn) và xác minh đối với ông Nịnh Văn Nh là bố chồng của chị Dương Thị S. Kết quả thể hiện, chị Dương Thị S hiện nay có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Trung Thành 1, xã Thành Long, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (nay là Thôn Trung Thành 1, xã Thái Sơn, tỉnh Tuyên Quang) nhưng hiện tại chị đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về thăm gia đình. Anh Th và chị S được tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Cuộc sống chung thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc; đến năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, anh chị sống ly thân từ năm 2018 đến nay, mỗi người sống một nơi, không có trách nhiệm gì với nhau. Đại diện thôn và gia đình ông Nịnh Văn Nh có nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng, tài liệu của Tòa án và đã thông báo cho chị Dương Thị S biết biết nhưng chị S cho rằng hiện nay đang đi làm ăn xa, không đến Tòa án làm việc được. Anh Th và chị S có 01 con chung là cháu Nịnh Văn H, sinh ngày 18/3/2016; hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh Nịnh Văn Th. Quá trình chung sống anh Nịnh Văn Th và chị Dương Thị S không có tài sản, đất đai, vay nợ chung.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định; bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân, đề nghị xử cho anh Nịnh Văn Th được ly hôn với chị Dương Thị S.
Về con chung, đề nghị giao cháu Nịnh Văn H, sinh ngày 18/3/2016 cho anh Nịnh Văn Th được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Dương Thị S không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc anh Nịnh Văn Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và ý kiến của anh Nịnh Văn Th, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nịnh Văn Th và chị Dương Thị S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thành Long, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã Thái Sơn, tỉnh Tuyên Quang) theo giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 08/9/2014, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán của địa phương. Như vậy hôn nhân giữa anh Nịnh Văn Th và chị Dương Thị S là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, hòa thuận, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Th, chị S sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh Th và chị S không có hạnh phúc, sống ly thân đã lâu, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc và tiến bộ. Vì vậy, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nịnh Văn Th, xử cho anh Nịnh Văn Th được ly hôn với chị Dương Thị S.
Về con chung: Quá trình chung sống anh Th và chị S có một con chung là cháu Nịnh Văn H, sinh ngày 18/3/2016; hiện tại cháu đang sinh sống cùng anh Th. Tại biên bản lấy ý kiến con chung, cháu H có nguyện vọng muốn được ở cùng với bố khi bố mẹ ly hôn. Do vậy để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của cháu, xét thấy anh Th có việc làm và đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, do vậy giao cho anh Th nuôi con chung là phù hợp, chị S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Anh Nịnh Văn Th xác định vợ chồng không có, không đề nghị Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về việc vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Dương Thị S vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú và các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung, quan hệ tài sản, đất đai, vay nợ chung của anh Th và chị S, cũng như đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đảm bảo đúng với các quy định của pháp luật. Kết quả xác minh đã thể hiện chị S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Trung Thành 1, xã Thành Long (nay là Thôn Trung Thành 1, xã Thái Sơn), chị S đi làm nhưng thỉnh thoảng vẫn về nhà thăm con và gia đình. Các thủ tục tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng và xác minh của Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng với các quy định của pháp luật về việc giải quyết vụ án trong trường hợp một bên đương sự vắng mặt. Tại phiên toà anh Nịnh Văn Th có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về án phí: Anh Nịnh Văn Th là dân tộc thiểu số (dân tộc Cao lan), cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí theo điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nịnh Văn Th.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nịnh Văn Th được ly hôn với chị Dương Thị S.
Giấy chứng nhận kết hôn số 59 do Ủy ban nhân dân xã Thành Long cấp ngày 08 tháng 9 năm 2014 (nay là xã Thái Sơn) cho anh Nịnh Văn Th và chị Dương Thị S không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Nịnh Văn H, sinh ngày 18/3/2016 cho anh Nịnh Văn Th được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Dương Thị S không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở; các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.
3. Về án phí: Anh Nịnh Văn Th là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Chị Dương Thị S không phải nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSNDKV2 - Tuyên Quang; - THADS tỉnh Tuyên Quang; - UBND xã Thái Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phan Thị Bích - Dương Thị ninh | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Hoàng Cao Tiến HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Cao Tiến |