vanban.org

Bản án 43/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Kim O. Về hôn nhân: Chị Phan Thị Kim O được ly hôn với anh Võ Văn V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 02 – 4 – 2025
V/v tranh chấp về hôn nhân và
gia đình ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Dài;

2. Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Hậu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Duyên là kiểm sát viên.

Vào các ngày 17 tháng 3 năm 2025 và ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Kim O, sinh năm 1990.

- Bị đơn: Anh Võ Văn V, sinh năm 1978.

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Chị Phan Thị Kim O vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt và anh Võ Văn V vắng mặt tại phiên Tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Thị Kim O trình bày:

Về hôn nhân: Chị O và anh V kết hôn năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 17/12/2018. Hôn nhân giữa Chị O và anh V được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu tiến tới kết hôn.

Thời gian đầu vợ chồng Chị O và anh V chung sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019 cho đến năm 2023 sự mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn nên Chị O đã nộp đơn khởi kiện ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện C với nhận định là Chị O và anh V vẫn có cơ hội hàn gắn đoàn tụ lại nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị O.

Sau thời gian đoàn tụ thì giữa Chị O và anh V lại bất đồng ý kiến trong các quyết định về gia đình, công việc và tình cảm, vợ chồng hay cự cãi nhau, anh V có những lời lẽ xúc phạm và đe dọa sẽ dùng dao giết Chị O. Từ đó vợ chồng Chị O và anh V không còn yêu thương chăm sóc nhau và đã ly thân từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Hiện tại, tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được.

Chị Phan Thị Kim O yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn V.

Về con chung: Trong quá trình chung sống Chị O và anh V có 01 con chung tên Võ Trung K, sinh ngày 31/01/2019 sau khi ly hôn Chị O yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh V thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Võ Văn V không có văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng dân sự là đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Kim O về vấn đề hôn nhân. Về con chung: Giao con chung tên Võ Trung K, sinh ngày 31/01/2019 cho Chị O tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi, Chị O không yêu cầu anh V thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:

- Đơn khởi kiện (Bản chính); Bản khai (Bản chính); Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính); căn cước công dân của chị Phan Thị Kim O (Photo đối chiếu), Giấy khai sinh của Võ Trung K (bản sao), Bản án số 132/2023/HNGĐ-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình (Bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Kim O và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Võ Văn V cư trú tại Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Phan Thị Kim O có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Võ Văn V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Nên tiến hành xét xử vắng mặt Chị O và anh V theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Phan Thị Kim O yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn V.

Xét thấy, Chị O và anh V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 17/12/2018, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn từ năm 2019 cho đến năm 2023 sự mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn nên Chị O đã nộp đơn khởi kiện ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình với nhận định là Chị O và anh V vẫn có cơ hội hàn gắn đoàn tụ lại nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị O.

Sau thời gian đoàn tụ thì giữa Chị O và anh V lại bất đồng ý kiến trong các quyết định về gia đình, công việc và tình cảm, vợ chồng hay cự cãi nhau, anh V có những lời lẽ xúc phạm và đe dọa Chị O. Từ đó vợ chồng Chị O và anh V không còn yêu thương chăm sóc nhau và đã ly thân từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Khoảng thời gian sống ly thân vợ chồng anh chị không có hàn gắn tình cảm với nhau. Hơn nữa, Chị O xác định giữa Chị O và anh V không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không tạo điều kiện để cho nhau phát triển về mọi mặt.

Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa Chị O và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Ngoài ra Chị O cũng đã cho anh V cơ hội để hàn gắn tình cảm sau khi bản án số 132/2023/HNGĐ-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp có hiệu lực. Tuy nhiên hôn nhân giữa Chị O và anh V vẫn không thể nào hàn gắn được. Do đó, chị Phan Thị Kim O yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn V là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống Chị O và anh V có 01 con chung tên Võ Trung K, sinh ngày 31/01/2019, sau khi ly hôn Chị O yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung vì theo bản án số 132/2023/HNGĐ-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp anh V đã có ý kiến giao con chung cho Chị O tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Ngoài ra, cháu K hiện đang học tập và sinh sống ổn định cùng với Chị O. Để đảm bảo cho sự phát triển ổn định trên cho cháu K cần tiếp tục giao Võ Trung K, sinh ngày 31/01/2019 cho Chị O tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi là phù hợp. Đối với việc cấp dưỡng nuôi con do Chị O không yêu cầu anh V thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và anh V cũng không có văn bản ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị O xác định là không có, không yêu cầu giải quyết. Chị Phan Thị Kim O không có văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phan Thị Kim O phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Kim O.

- Về hôn nhân: Chị Phan Thị Kim O được ly hôn với anh Võ Văn V.

- Về con chung: Giao con chung tên Võ Trung K, sinh ngày 31/01/2019 cho Chị O tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành đủ 18 tuổi, anh Võ Văn V không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do Chị O không yêu cầu.

Anh Võ Văn V được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phan Thị Kim O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0007243 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Phan Thị Kim O đã nộp xong tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Anh Võ Văn V không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ