- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? I. Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của bị đơn ông Vũ Quốc T do làm trong thời hạn luật định.
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾‾ Bản án số: 43/2025/HNGĐ-PT Ngày: 24-4-2025 Về việc tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Tùng Lâm.
Ông Hồ Minh Cường.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa:
Bà Đỗ Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 42/2025/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 5455/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1746/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; địa chỉ: đường A, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Quốc T, sinh năm 1980; địa chỉ: Đường D, phường E, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Minh H – Luât sư Văn phòng luật sư Uy T thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: đường M, Phường N, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Vũ Quốc T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Nguyễn Thị L và ông Vũ Quốc T đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 4626/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, các bên thỏa thuận bà L sẽ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Vũ Minh T, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2014, ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Vũ Nguyễn Minh A sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019; các bên không yêu cầu cấp dưỡng.
[1.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Sau khi ly hôn, vào ngày 01 tháng 01 năm 2024 ông T đưa trẻ Minh A ra ngoài ở và không cho bà biết địa chỉ chỗ ở cũng như chỗ học của con. Sau khoảng một tuần khi biết được trường học của con, bà liên hệ cô giáo để được gặp con nhưng không được do ông T yêu cầu chỉ mình ông T được gặp và đưa đón trẻ Minh A. Nhờ sự hỗ trợ của Hiệu trưởng nên khi ông T đến đón trẻ Minh A thì bà cũng sẽ đến cùng lúc để được gặp con, mỗi lần ông T chỉ cho bà tiếp xúc với con từ 15 đến 20 phút tại sân trường và không cho phép con nhận bất cứ thứ gì từ bà, kể cả đồ chơi và đồ ăn vặt, không cho trẻ Minh A tiếp xúc với bất cứ ai bên nhà ngoại trừ bà và trẻ Minh T.
Bà có trao đổi với ông T về việc đón trẻ Minh A về nhà chơi, bà cam kết sẽ đưa trẻ về với ông T trước 21 giờ. Tuy nhiên, vào ngày 22 tháng 01 năm 2024 khi bà qua đón trẻ Minh A thì ông T không cho, hai bên xảy ra cự cãi và xô xát, sự việc được Công an phường Trường Thọ lập biên bản.
Sau sự việc trên, ông T chỉ đồng ý cho bà đến thăm trẻ Minh Anh một tuần hai tiếng vào sáng chủ nhật hàng tuần, chỉ được chơi tại nhà, không được dẫn trẻ đi đâu ngoài sự kiểm soát của ông T.
Đến tháng 6 năm 2024, ông T đã đưa trẻ Minh A về sống cùng ông bà nội tại huyện O, tỉnh Bình Thuận, khi đó bà đã đến tìm để gặp con, ông T đồng ý. Tuy nhiên, khi bà đến thăm con lần thứ hai, ông T yêu cầu bà chỉ được thăm con từ 9 giờ đến 11 giờ sáng chủ nhật hằng tuần. Bà có trao đổi với ông T việc được thăm con vào ngày trong tuần, ngày cụ thể bà sẽ thông báo trước nhưng ông T không đồng ý.
Vào thứ bảy, ngày 14 tháng 9 năm 2024, bà đến thăm trẻ Minh A. Mặc dù trẻ đang ở trong nhà nhưng ông T không cho bà được gặp con do không đúng lịch hẹn. Hai bên xảy ra cự cãi, xô xát, ông T đã đánh bà và trẻ Minh T. Sự việc được Công an xã T ghi nhận nhưng bà không được cung cấp biên bản do ông T chưa ký tên.
Từ đó đến nay, bà chỉ được gặp con vào sáng Chủ nhật hằng tuần, không được đưa trẻ đi chơi hay thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người mẹ. Trong quá trình nuôi dạy trẻ Minh A, ông T nhiều lần nhắn tin cho biết sẽ gửi trẻ xuống trường dòng tại Cam Ranh hoặc cho trẻ sống với chị ruột ông T tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện ông T làm việc tại tỉnh Bình Dương, trẻ Minh A đang sống cùng ông bà nội đã lớn tuổi, sức khỏe yếu. Do đó, bà yêu cầu được giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Vũ Nguyễn Minh A, yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con mỗi tháng 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà rút lại yêu cầu cấp dưỡng.
[1.2] Bị đơn ông Vũ Quốc T trình bày:
Sau khi ly hôn, ông và bà L không liên lạc trong khoảng một tuần. Trong thời gian này, ông đưa trẻ Minh Anh ra ngoài sinh sống, không cho bà L biết địa chỉ. Sau khi bà L biết được nơi ở và trường học của trẻ Minh A thì có đến trường thăm con. Ông đồng ý cho bà L gặp trẻ Minh A khi ông đến đón con, ngoài ra, bà L không được tiếp xúc trực tiếp với trẻ để không làm ảnh hưởng xấu đến nhận thức của trẻ về ông, nhưng trên thực tế, bà L thường đến sớm và gặp gỡ, chơi cùng trẻ Minh A cho đến khi trường đóng cửa.
Từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 06 năm 2024, khi ông cư trú tại Đường D, phường E, thành phố Hồ Chí Minh, bà L được đến thăm con bất kỳ lúc nào và không giới hạn thời gian, nhưng chỉ được ở trong nhà, không được dẫn trẻ ra ngoài.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024, bà L yêu cầu được đưa trẻ Minh A đi chơi nhưng ông không đồng ý, bà L xúc phạm ông nên giữa ông và bà L đã xảy ra xô xát, sự việc đã được Công an phường T, thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận.
Vào tháng 6 năm 2024, do công ty không có việc ông được tạm nghỉ nên đã đưa trẻ Minh A về sống cùng ông bà nội tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Ông ở đây cùng trẻ Minh A được khoảng 2 tháng, khi thấy trẻ đã quen với cuộc sống với ông bà nội thì đến tháng 8 năm 2024, ông quay lại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục làm việc, trẻ Minh A ở cùng ông bà nội.
Trong thời gian trẻ Minh A ở cùng ông bà nội, ông yêu cầu bà L chỉ được thăm trẻ khoảng 2 tiếng vào ngày Chủ nhật nhằm đảm bảo lịch sinh hoạt ổn định cho trẻ và thuận tiện cho việc sắp xếp thời gian của các bên. Nhưng vào thứ bảy ngày 14 tháng 9 năm 2024, bà L và trẻ Minh T đến thăm trẻ Minh A không đúng lịch, bà L dùng lời lẽ xúc phạm ông nên xảy ra xô xát giữa ông với bà L và trẻ Minh T. Bà L trình báo sự việc đến Công an xã Trà Tân, Công an liên hệ với ông và ông đã trình bày lại sự việc nêu trên.
Ông xác nhận từng có ý định gửi trẻ Minh A vào trường nội trú tại Cam Ranh hoặc gửi cho chị ruột của ông chăm sóc tại Thành phố Hồ Chí Minh do bà L thường xuyên gây phiền phức cho cha mẹ ông. Tuy nhiên, hiện nay trẻ đang sống ổn định với ông bà nội nên ông quyết định để trẻ tiếp tục sinh sống tại đây. Ông không cho trẻ Minh A tiếp xúc với bất kỳ ai bên ngoại vì lo ngại trẻ sẽ bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ sai lệch của gia đình bà L về ông.
Ông có đăng ký tạm trú cho trẻ Minh A tại địa chỉ Đường F, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thực tế trẻ đang sinh sống và đi học tại tỉnh Bình Thuận. Ông dự định sẽ xin việc và làm việc tại tỉnh Bình Thuận từ tháng 3 năm 2024 để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Minh A. Hiện tại, trẻ Minh A có cuộc sống ổn định, việc thay đổi môi trường sống có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ. Do đó, ông yêu cầu Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.
[2] Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 5455/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L: Giao trẻ Vũ Nguyễn Minh A, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung sau khi ly hôn, về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05 tháng 12 năm 2024, ông Vũ Quốc T có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tiếp tục giao con chung là trẻ Vũ Nguyễn Minh A cho ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:
[4.1] Bị đơn ông Vũ Quốc T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn cùng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do ông T hoàn toàn không có hành vi cản trở bà Nguyễn Thị L thăm gặp con vào ngày 14 tháng 9 năm 2024 như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định, sự việc xô xát xảy ra xuất phát từ việc bà L đến thăm trẻ Minh A không đúng lịch và không thông báo trước như ông yêu cầu. Ông đang thực hiện tốt nghĩa vụ của một người cha, đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho trẻ Minh A. Ông có công việc và thu nhập ổn định hàng tháng, có tài sản riêng, có nơi ở ổn định tại nhà em ruột và hoàn toàn không ngăn cản việc bà L thăm gặp con. Hiện tại, ông đã đưa trẻ Minh A lên Thành phố Hồ Chí Minh sống cùng ông và đi học tại trường Mầm non Mai A. Bà L đã bán căn nhà là tài sản chung của vợ chồng mà sau khi ly hôn ông đồng ý để bà L sở hữu tạo điều kiện tốt nuôi dưỡng con chung là trẻ Minh T, hiện tại, bà L cùng con đang ở nhà thuê không đảm bảo về cơ sở vật chất. Bà L đi làm không có nhiều thời gian để trực tiếp chăm sóc trẻ Minh T dẫn đến trẻ bị thừa cân do không được tham gia hoạt động thể dục, thể thao. Bà L không có đủ khả năng để nuôi dưỡng tốt cả 02 con chung. Do đó, không có cơ sở để thay đổi quyền trực tiếp nuôi con của ông. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, giao trẻ Minh A cho ông tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc như đã thỏa thuận trước đây.
[4.2] Nguyên đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn do trong khoảng thời gian nuôi dưỡng trẻ Minh A, ông T không tạo điều kiện thuận lợi để bà được thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con; hạn chế thời gian và hình thức bà được thăm con. Ông T sống nhờ nhà người em tại Thành phố Hồ Chí Minh, đi làm tại tỉnh Bình Dương và phải gửi trẻ Minh A cho ông bà nội nuôi dưỡng tại tỉnh Bình Thuận, hiện ông bà nội đều đã lớn tuổi. Bà có đủ điều kiện để đảm bảo nuôi dưỡng tốt cả 02 con chung như có nơi cư trú và mức thu nhập ổn định, nhận được sự hỗ trợ từ mẹ của bà, thời gian làm việc hàng ngày đảm bảo chăm sóc được các con chung. Để đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất của các con chung, yêu cầu Tòa án không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[4.3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm có nêu: Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử, các đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đề xuất đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị đơn ông Vũ Quốc T thừa nhận từ tháng 6 năm 2024 ông T đưa trẻ Minh A về quê giao cho ông bà nội nuôi dưỡng; ông T có hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của bà L như không cho dẫn con ra ngoài, không cho tiếp xúc với bà ngoại. Đến thời gian gần đây bà L được thăm trẻ Minh A trong khoảng 2 tiếng vào ngày chủ nhật. Do bà L thăm con không đúng lịch nên bà L và ông T xảy ra xô xát, đây là các nội dung mà các bên thừa nhận nên không cần chứng minh. Theo quy định của pháp luật, cha mẹ sau khi ly hôn vẫn có quyền thăm nom, chăm sóc con, việc ông T giới hạn thời gian, không gian bà L được quyền thăm con đã là hạn chế quyền của bà L. Trong vụ án này, khả năng của các bên trong đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng con chung là như nhau, có thể đảm bảo con được phát triển về thể chất và tinh thần, tuy nhiên, trẻ Minh A là bé gái được giao cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là có sự phù hợp về giới tính; trẻ Minh A hiện đang trong giai đoạn cần sự chăm sóc từ người mẹ để phát triển toàn diện; việc để trẻ Minh A và Minh T sống cùng nhau cũng tạo điều kiện tốt cho các con phát triển tình cảm anh em. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đảm bảo công bằng, khách quan, đúng pháp luật, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
I. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
II. Về nội dung: Xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và hòa giải thành số 4626/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị L và ông Vũ Quốc T thỏa thuận bà L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trẻ Vũ Minh T, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2014, ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trẻ Vũ Nguyễn Minh A sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019; các bên không yêu cầu cấp dưỡng.
Cho rằng ông T không tạo điều kiện thuận lợi cho mình được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác của người mẹ đối với con chung là trẻ Vũ Nguyễn Minh A sau khi ly hôn; ông T cũng không đảm bảo điều kiện về chỗ ở, thời gian chăm sóc con thể hiện qua việc ông T phải gửi con về ở cùng ông bà nội tại tỉnh Bình Thuận, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với trẻ Vũ Nguyễn Minh A.
Xét, qua lời trình bày của bị đơn ông Vũ Quốc T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ông T đồng thời đăng ký tạm trú cho ông cùng con gái Vũ Nguyễn Minh A tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận và phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khoảng 6 tháng cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông T đưa con về tỉnh Bình Thuận để ông bà nội chăm sóc; hiện tại, ông T lại đưa trẻ Minh A lên Thành phố Hồ Chí Minh và đăng ký cho trẻ học tại trường Mầm non Mai A, phường B. Bản thân ông T nhận thức được việc thay đổi nơi ở, trường học và môi trường sống của con cần thời gian để thích nghi, cụ thể, khi đưa con về tỉnh Bình Thuận, ông T đã có khoảng thời gian 02 tháng cùng trẻ Minh A làm quen với việc chung sống cùng ông bà nội, nhưng từ thời điểm thuận tình ly hôn và thỏa thuận việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn vào tháng 12 năm 2023, ông T đã nhiều lần thay đổi nơi ở và trường học của trẻ Minh A. Theo ông T, ông định hướng sẽ tìm được việc làm vào tháng 3 năm 2024 để cùng về chung sống với con tại tỉnh Bình Thuận nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm là tháng 12 năm 2024 và cho tới nay, ông T vẫn ở nhờ nhà người em tại Thành phố Hồ Chí Minh và làm việc tại tỉnh Bình Dương. Ông T thừa nhận hiện ông vẫn đang trong thời gian sắp xếp mọi thứ ổn định từ chỗ ở, việc làm, nơi học của con.
Những điều này cho thấy, ở thời điểm hiện tại, ông T không có đủ điều kiện đảm bảo nơi ở và nơi học tập ổn định, đảm bảo quyền được cha, mẹ trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đối với con chung là trẻ Vũ Nguyễn Minh A.
Về việc thực hiện nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung sau khi ly hôn: Các bên đương sự cùng trình bày thời gian đầu sau khi ly hôn, bà L được ông T tạo điều kiện để thăm gặp trẻ Vũ Nguyễn Minh A nhưng giới hạn việc thăm gặp con chỉ thực hiện tại nhà dưới sự giám sát của ông T, bà L không được đưa đón trẻ Minh A ra ngoài tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí, giáo dục. Từ thời điểm ông T đưa trẻ Minh A về tỉnh Bình Thuận, khả năng bà L thăm nom, chăm sóc trẻ Minh A càng bị hạn chế do khoảng cách về địa lý cũng như sự thiếu thống nhất giữa bà L, ông T về thời gian bà L thăm con định kỳ. Do đó, trẻ Minh A đã thiếu đi sự trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục từ người mẹ.
Về điều kiện của bà Nguyễn Thị L trong đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung: Bà L có nơi ở ổn định là nhà thuộc sở hữu của bà L; có công việc tạo thu nhập ổn định 26.000.000 đồng/tháng; bà L nhận được sự hỗ trợ từ mẹ của bà trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Với những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Ở thời điểm hiện tại, ông T không đảm bảo được các điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là trẻ Vũ Nguyễn Minh A, không đảm bảo được các quyền và lợi ích hợp pháp của con chung.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao con chung là trẻ Vũ Nguyễn Minh A cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có cơ sở và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại, phù hợp với lợi ích của con.
Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
Về cấp dưỡng: Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con là tự nguyện nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận là có cơ sở.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông Vũ Quốc T là người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147, Khoản 1 Điều 148, Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Luật Phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
I. Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của bị đơn ông Vũ Quốc T do làm trong thời hạn luật định.
II. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Vũ Quốc T, giữ nguyên quyết định của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 5455/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
III. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Vũ Quốc T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 006812X ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; đương sự đã thi hành xong án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND Tp. HCM; - TAND thành phố Thủ Đức, Tp. HCM; - Cục THADS Tp. HCM; - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức, Tp. HCM; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu. (TC: 17b) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |