vanban.org

Bản án 43/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Huỳnh Bỉnh N 02 (hai ) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 10 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước Đ 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Phước Đ cho Ủy ban nhân dân Phường B1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phước Đ phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Huỳnh Bỉnh N 02 (hai ) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 10 năm 2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST
Ngày: 11-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Văn Vô

Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Phước Đ, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở: C L, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Phước H; Con bà: Nguyễn Thị T; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 (có mặt tại phiên tòa).

2. Huỳnh Bỉnh N, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1997, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: B M, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 10/12; Dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Chí T1; Con bà: Âu L; Có vợ tên Tô Trường Y; Có 01 người con, sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 05/8/2022 bị Công an Q ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác” với số tiền 6.500.000 đồng, đến ngày 19/8/2022 đã thực hiện xong việc đóng phạt số tiền nêu trên; Nhân thân: Ngày 17/8/2017 bị Công an phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt hành chính về số tiền 900.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, đến ngày 14/9/2017 bị cáo N đã thực hiện xong việc đóng phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Hoàng M có mối quan hệ tình cảm với Tạ An N1 (tên gọi khác: Ti Na) từ tháng 02 năm 2022. Sau đó M phát hiện Ni có thai, tuy nhiên do nghi ngờ N1 có quan hệ tình cảm với Lê Long C (tên gọi khác: Chính L1) và nghĩ rằng thai mà N1 đang mang không phải của M mà là của C nên giữa M và C có mâu thuẫn cãi vã, hai bên nhắn tin, gọi điện thoại và lên mạng xã hội Facebook để đăng bài viết nói xấu nhau.

Vào khoảng 21 giờ ngày 14/01/2023, C nhắn tin cho M hẹn gặp nhau tại khu vực Cầu Đ trên đường N thuộc địa bàn huyện B để giải quyết mâu thuẫn, M rủ thêm 03 người bạn gồm: Nguyễn Phước Đ, Nguyễn Thành C1 (không rõ lai lịch) và Bi B (không rõ lai lịch). Đ, C1 và Bi B rủ thêm 02 người (không rõ lai lịch). Nhóm M gồm 06 người, đi 03 xe mô tô (không rõ biển số) đến khu vực Cầu Đ thì gặp nhóm của C khoảng 10 người, trong đó có Huỳnh Bỉnh N còn lại không rõ lai lịch. Tại đây, M và C lao vào đánh nhau bằng tay không, những người còn lại của 02 nhóm chỉ đứng xem, không tham gia đánh nhau, M dùng tay đấm vỡ nón bảo hiểm của C đang đội và bị các mảnh vỡ nón cắt vào 02 bàn tay gây thương tích chảy máu; C bị M đấm trúng mặt và đầu. Sau đó, C lấy trong người ra một hung khí, hình dáng giống như mã tấu hù dọa thì M hoảng sợ chạy lên xe Bi B cùng nhóm của M bỏ chạy. Sau đó nhóm của C cũng ra về. Riêng Bi B chở M đến Bệnh viện Q1 để khám và khâu vết thương ở 02 bàn tay rồi chở M về nhà.

Đến khoảng 03 giờ ngày 15/01/2023, Huỳnh Bỉnh N gọi cho Nguyễn Phước Đại đ hẹn Đ ra khu vực trung tâm thương mại A để đánh nhau tiếp do đã mâu thuẫn trước đó (xảy ra tại Cầu Đ, huyện B) thì Đại đồng ý. Nguyên rủ Tài K (không rõ lai lịch) cùng khoảng hơn 10 người (không rõ lai lịch) đi trên nhiều xe mô tô (không rõ biển số) để đến điểm hẹn đánh nhau. Đ rủ thêm Nguyễn Thành C1 (chưa rõ lai lịch) để cùng đi đánh nhau với nhóm N. C1 điều khiển xe chở theo Đ đi cùng 03 người bạn khác của C1 (không rõ lai lịch) đến trước K, Nguyễn Duy D, Phường I, Quận E (bên hông Trung tâm thương mại A). Khi đến nơi, Đ đi xung quanh chợ A1 để tìm hung khí đánh nhau với nhóm N thì nhặt được 01 cây dao tự chế (dài khoảng 80cm, cán bằng sắt, đầu hình tù, có phần lưỡi dao sắc nhọn, màu xám đen) trên vỉa hè. Sau đó, nhóm của N khoảng hơn 10 người (không rõ lai lịch) đến đến nơi hẹn gặp. Lúc này, Tài K đưa cho N 01 cây dao tự chế (dài khoảng 70 cm). N đi đến gần Đ và cả hai đứng nói chuyện tại trước K, Nguyễn Duy D, Phường I, Quận E thì lúc này Đ và N xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau. N cầm cây dao tự chế chém vào cẳng chân trái và tay của Đ. Đ cũng cầm cây dao tự chế chém vào sườn bên phải, cẳng tay phải và ngón cái tay phải của N. Riêng các đối tượng trong nhóm của N và Đ đứng bên ngoài và có hành vi dùng điện thoại di động quay lại sự việc. Đồng thời la hét cổ vũ cho Đ và N đánh nhau. Trong lúc Đ và N đánh nhau thì lưỡi dao và cán dao của N bị sút ra. N tiếp tục cầm cán dao lao vào giằng co với Đ làm rơi con dao và N cũng làm rơi cán dao tại hiện trường. N và Đ tiếp tục lao vào vật nhau xuống đất thì lúc này có 02 phát súng nổ (mỗi phát súng cách nhau khoảng 30 giây) nhưng không xác định do nhóm nào gây ra. Người dân xung quanh khu vực Đ và N đánh nhau chứng kiến sự việc nên truy hô thì tất cả lên xe bỏ chạy. Anh Nguyễn Trọng N2 là nhân viên bảo vệ tại Trung tâm thương mại A phát hiện sự việc trên nên đã đến Công an P, Quận E trình báo. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 để thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số: 3615/KL-KTHS ngày 17/4/2023 của Phòng K1-Công an Thành phố H, kết luận: 04 viên đạn gửi giám định là đạn thể thao cỡ 5,6x15,6mm, chưa qua sử dụng, thuộc nhóm vũ khí thể thao, sử dụng cho một số loại súng thuộc nhóm vũ khí thể thao và các loại súng tự chế có cỡ nòng, buồng chứa đạn phù hợp với loại đạn này. 01 (một) dụng cụ có cán bằng gỗ, lưỡi sắc, nhọn bằng kim loại, dài khoảng 76cm còn sử dụng được, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thô sơ.

Ngày 13/02/2023, Ủy ban nhân dân Phường I, Quận E có công văn số 118/BC-UBND phúc đáp về vụ việc trên như sau: Vụ việc xảy ra ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn; ảnh hưởng đến tâm lý người dân và các tiểu thương buôn bán xung quanh khu vực; ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người dân và đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 xử lý vụ việc trên theo đúng quy định của pháp luật.

Tiến hành ghi lời khai Đào Hoàng M trình bày sự việc mâu thuẫn như trên, khi đánh nhau với C ở Cầu Đ, huyện B kết thúc thì M và C đi Bệnh viện điều trị vết thương rồi cả hai về nhà ngủ, không tham gia đánh nhau cùng nhóm N và Đ tại trước Kiot số 10, Nguyễn Duy D, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tạ An N1 khai phù hợp với lời khai của Đào Hoàng M. Sự việc M đánh nhau với C ở Cầu Đ, huyện B và việc Nguyễn Phước Đ cùng Huỳnh Bỉnh N đánh nhau ở Trung tâm thương mại A, Phường I, Quận E, N1 không biết.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Phước Đ và Huỳnh Bỉnh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Trong quá trình đánh nhau tại Chợ A, Phường I, Quận E không có sự tham gia của Đào Hoàng M và Lê Long C. Việc đánh nhau tại trước K, Nguyễn Duy D, Phường I, Quận E (Trung tâm thương mại A) chỉ có Đ và N thực hiện. Các đối tượng còn lại của 02 nhóm chỉ đứng la hét cổ vũ, không tham gia đánh nhau. Các đối tượng trên là bạn bè ngoài xã hội của Đ và N, không rõ lai lịch địa chỉ. Đối với 04 viên đạn thu giữ tại hiện trường, Đ và N không biết nguồn từ đâu, của ai.

Quá trình điều tra, Huỳnh Bỉnh N và Nguyễn Phước Đ có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với sự việc trên.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) cán dao bằng gỗ dài khoảng 20cm; 01 (một) lưỡi dao tự chế dạng mã tấu dài 60cm; 04 (bốn) viên đạn tự chế dài khoảng 1,5cm; 01 (một) áo thun màu đen; 01 (một) áo khoác Jean màu xanh nhạt; 01 (một) gọng kính màu đen; 07 (bảy) chiếc dép các loại; số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng); 01 (một) USB ghi nhận vụ việc tụ tập đánh nhau vào ngày 15/01/2023 tại trước K, Nguyễn Duy D, Phường I, Quận E.

Về trách nhiệm dân sự: Huỳnh Bỉnh N và Nguyễn Phước Đ không có yêu cầu gì.

Bản cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 23/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Phước Đ và Huỳnh Bỉnh N về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Phước Đ và Huỳnh Bỉnh N về tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

Đề nghị áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Phước Đ với mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Đề nghị áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Huỳnh Bỉnh N với mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Ngoài ra không có ý kiến tranh luận nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa công khai, các bị cáo Nguyễn Phước Đ và Huỳnh Bỉnh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, vào ngày 15/01/2023 các bị cáo Nguyễn Phước Đ và Huỳnh Bỉnh N cùng với một số đối tượng khác không rõ lai lịch đã tụ tập tại trước số A N, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh rồi có hành vi la hét, cổ vũ đánh nhau và N và Đ đã sử dụng hung khí bằng kim loại đánh nhau, gây mất trật tự và làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương (Tại Công văn số 118/BC-UBND ngày 13/02/2023 của Ủy ban nhân dân Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh đã kiến nghị xử lý hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng). Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Phước Đ và Huỳnh Bỉnh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét các bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình. Biết hành vi la hét, đánh nhau gây mất an ninh trật tự là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo N là người khởi xướng chủ động hẹn bị cáo Đ đến trước số A N, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn và sau đó dẫn đến đánh nhau. Bản thân bị cáo N đã 02 lần từng bị Cơ quan Công an xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về trật tự an toàn công cộng, gây hoang mang, bức xúc cho quần chúng nhân dân. Do đó, cần xét xử các bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo nhằm giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đều phạm tội lần đầu nhân thân chưa có tiền án. Riêng bị cáo Đ nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo N đã nhiều lần bị Cơ quan Công an xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng” nhưng không biết sửa đổi bản thân mà tiếp tục có hành vi phạm tội nên cần phải bắt bị cáo N chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đủ sức răn đe.

Đối với bị cáo Đ đang bị tạm giam và thời gian tạm giam cũng hơn 07 tháng, trong thời gian tạm giam bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và biết sửa đổi, cải tạo thành người có ích cho xã hội, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; mới phạm tội lần đầu, bên cạnh đó chính bị cáo N3 là người chủ động điện thoại hẹn bị cáo Đại để giải quyết mâu thuẫn nên không cần thiết tiếp tục giam bị cáo Đ nữa mà xem xét cho bị cáo hình phạt tù nhưng được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời xem xét trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội khác.

Về hình phạt bổ sung: Không xem xét dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đối với vụ việc đánh nhau trước đó giữa nhóm Đào Hoàng M và Lê Long C vào ngày 14/01/2023 xảy ra tại Cầu Đ trên đường N thuộc huyện B, TP . nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã có Công văn chuyển nguồn tin tội phạm trên đến Công an huyện B, TP . để tiếp tục điều tra xác minh theo thẩm quyền.

Đối với Đào Hoàng M, Tạ An N1 và Lê Long C (hiện C đã bỏ địa phương đi đâu không rõ) không tham gia bàn bạc và cùng nhóm của Nguyễn Phước Đ và Huỳnh Bỉnh N đánh nhau tại trước số A N, Phường I, Quận E vào ngày 15/01/2023 nên không có cơ sở xử lý.

Đối với các đối tượng trong nhóm của Huỳnh Bỉnh N và Nguyễn Phước Đ cùng tham gia hò hét cổ vũ cho N và Đ đánh nhau. Hiện chưa rõ lai lịch, khi nào làm việc được củng cố xử lý sau.

Đối với 04 viên đạn thu giữ tại hiện trường, không rõ nguồn gốc là của ai nên không có cơ sở xử lý về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ theo Điều 306 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với lưỡi dao dài 60cm mà Huỳnh Bỉnh N sử dụng để đánh nhau không xác định được nguồn gốc, xuất xứ và N cũng chưa bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội danh quy định tại Điều 306 Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên không có cơ sở xử lý.

Về xử lý vật chứng:

01 (một) cán dao bằng gỗ dài khoảng 20cm; 01 (một) lưỡi dao tự chế dạng mã tấu dài 60cm; 01 (một) áo thun màu đen; 01 (một) áo khoác Jean màu xanh nhạt; 01 (một) gọng kính màu đen; 07 (bảy) chiếc dép các loại. Xét đây là vật chứng, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), Cơ quan Công an thu giữ tại hiện trường, không xác định được chủ sở hữu và không ai đến nhận nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Xét 04 (bốn) viên đạn tự chế dài khoảng 1,5cm là đạn thể thao, chưa qua sử dụng, thuộc nhóm vũ khí thể thao, sử dụng cho một số loại súng thuộc nhóm vũ khí thể thao và các loại súng tự chế nên Hội đồng xét xử giao Cơ quan Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định pháp luật.

01 (một) USB ghi nhận vụ việc tụ tập đánh nhau vào ngày 15/01/2023 tại trước K, Nguyễn Duy D, Phường I, Quận E là tài liệu lưu theo hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Huỳnh Bỉnh N 02 (hai ) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 10 năm 2023.

Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước Đ 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Phước Đ cho Ủy ban nhân dân Phường B1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ Khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Phước Đ tại phiên tòa, nếu bị cáo Đ không bị tạm giam về một tội khác.

Trong trường hợp bị cáo Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Đ được hưởng án treo mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt tù của bản án.

Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Khoản 2Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ; Điều 230 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cán dao bằng gỗ dài 20cm; 01 (một) lưỡi dao tự chế dạng mã tấu dài 60cm; 01 (một) áo thun màu đen; 01 (một) áo khoác Jean màu xanh nhạt; 01 (một) gọng kính màu đen; 07 (bảy) chiếc dép các loại.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Giao Cơ quan Công an Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh 04 (bốn) viên đạn tự chế dài khoảng 1,5cm để xử lý theo quy định pháp luật .

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB ghi nhận vụ việc tụ tập đánh nhau vào ngày 15/01/2023 tại trước K, Nguyễn Duy D, Phường I, Quận E (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh và Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9061559.00000 của Công an Q2 tại Kho bạc Nhà nước Q3, do Nguyễn Hoàng M1 nộp ngày 20/9/2023).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo Đ).

Cỡ chữ