vanban.org

Bản án 43/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 05/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị Nguyễn Tiến T 18 (mười tám ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2023. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 6.900.000 đồng (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hinh sự giảm; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST
Ngày: 05/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Huy

Các Hội thẩm: Ông Trần Trọng Dĩu.

Bà Đặng Thị Cẩm Thúy.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Anh Quang – Thư ký Toà

án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đinh Như Quỳnh- Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 05/03/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/HSST ngày 30/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 2 năm 2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Tiến T , sinh ngày 25/7/1994; Giới tính: nam; HKTT: Bản Kiến X, xã L, huyện C, tỉnh S; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 09/12; Con ông: Nguyễn Tiến M; Con bà: Bùi Thị K; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con út; Vợ: chị Nguyễn Thị Hồng N; Con: 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;

Danh chỉ bản số 000658 ngày 21/11/2023 do Công an quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội lập.

Nhân thân: Tại bản án số 25/HSST Ngày 23/05/2017, Toà án nhân dân huyện Quốc Oai xử phạt 04 tháng tù về tội “ Bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật” (Đã xoá);

Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/11/2023 cho đến nay và hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Số 1 – Công an Thành phố Hà Nội. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Chị Giàng Thị C– sinh năm 1988 HKTT : Thị trấn Phố Bảng, huyện Đ, thành phố H, tỉnh Hà Giang. Nơi ở hiện nay: Số 7 ngõ 147 Y, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Nguyên đơn dân sự:

1/ Anh Nguyễn Văn T1 sinh năm 2001, HKTT: thôn L, xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam.

Nơi ở hiện nay : Số 20 ngõ 196 C, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội . (Có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Lê Bá M sinh năm1999, HKTT: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt tại phiên tòa)

2/ Anh Trần Viết T2 sinh năm 2000, HKTT: Khối 1, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt tài phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/11/2023, T chơi tại quán game tại địa chỉ số 524 đường Láng, quận Đống Đa, Hà Nội. Khoảng 02h ngày 12/11/2023, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đi lang thang đến địa bàn quận Cầu Giấy. Khi đến nhà số 7 ngõ 147 Yên Hòa , Cầu Giấy, Hà Nội nhìn thấy cổng khóa nhưng cửa trong nhà mở, T trèo qua tường vào bên trong nhà đi lên tầng 2 rồi trèo lên nóc nhà về sinh nằm ngủ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T tỉnh dậy và đi xuống thấy phòng của chị Giàng Thị Chá ( SN 1998 ; HKTT : Thị trấn Phố Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang ) ở tầng 2 đèn sáng, cửa mở hé không có người, T đi vào bên trong phòng thấy 01 túi xách màu đen để ở chân giường. T mở túi xách, thấy bên trong có 01 điện thoại nhãn hiệu Vinsmart Joy 4 và 01 ví da màu đỏ. T cầm chiếc điện thoại cất vào túi quần trước bên trái rồi mở ví da màu đỏ thấy có 01 đăng ký xe máy Honda Vision, BKS: 23B1-656.17 . T quay ra cửa thấy 01 chùm chìa khóa xe máy dạng cơ treo trên giường, nghĩ là của chìa khóa của chiếc xe máy Honda Vision, BKS: 23B1-656.17 nên T cầm xuống sân thì thấy chiếc xe máy Honda Vision, BKS: 23B1-656.17, T mở khóa xe nhưng không được nên bỏ đi ra đầu ngõ 147 Yên Hòa. Tại đây, T bật nguồn chiếc điện thoại Vinsmart Joy 4 nhưng không được, nghĩ điện thoại bị hỏng không bán được T quay vào sân nhà số 7 ngõ 147 Yên Hòa dắt chiếc xe máy Honda Vision, BKS: 23B1-656.17 đến gửi xe tại số 139 đường Cầu Giấy. Sau khi gửi xe xong, T đi bộ đến quán game số 524 đường Láng. Trên đường đi, T vứt chiếc điện thoại Vinsmart Joy 4 xuống sông Tô Lịch. Đến quán game 524 đường Láng, T gặp Trần Viết T2 (Sinh năm 2000; Khối 1, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An) là bạn quen biết qua chơi game. T nói với T2 có chiếc xe máy của gia đình nhưng bị mất chìa khóa và nhờ T2 cho mượn tiền thuê người đánh chìa khóa để mang đi bán. T2 đồng ý và cùng T đi bộ đến số 139 đường Cầu Giấy để lấy xe dắt đến đầu ngõ 155 Cầu Giấy rồi thuê một người không quen biết trên mạng xã hội đánh chìa khóa xe. T dùng chìa khóa xe đánh được rồi mở khóa xe điều khiển xe chở T2 về quán game số 524 đường Láng thì gặp Lê Bá M (SN 1999, HKTT : Thôn Trung, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tưởng, tỉnh Vĩnh Phúc ) là bạn chơi game. T nói với M có chiếc xe máy của nhà muốn bán nhưng bị mất căn cước công dân nên không bán được nên nhờ T2 và M đem đi bán hộ thì T2 và M đồng ý. Đến khoảng 09 giờ ngày 13/11/2023, M và T2 mang chiếc xe đến số 79 phố Chùa Hà, Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội gặp anh Nguyễn Văn T1 (SN 2001, HKTT: thôn L, xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam) chủ cửa hàng mua bán xe máy cũ. M nói với anh T1 chiếc xe máy Honda Vision, BKS: 23B1-656.17 của M nên anh T1 đồng ý mua với giá 19.500.000 đồng. T2 đứng tên viết giấy mua bán xe, anh T1 đưa cho T2 3.500.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 16.00.000 đồng từ số tài khoản 6888201888888 ngân hàng MB bank tên Nguyễn Văn T1 vào số tài khoản 066906690001 ngân hàng LPbank tên Lê Bá M. Sau khi bán được xe, T2 và M về quán game số 524 đường Láng đưa hết số tiền cho T. Sau đó, khoảng 11 giờ cùng ngày T rủ T2 và M đi mua điện thoại, cả ba đi xe taxi đến cửa hàng điện thoại của chị Nguyễn Thị H (SN 1993, HKTT:thôn N, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình ) tại địa chỉ số 184 Y, Y, C, Hà Nội. Tại đây, T đã mua 01 điện thoại Iphone 13 màu xanh của chị Hoa với giá 12.600.000 đồng rồi cùng T2 và M quay về quán game số 524 đường Láng. Ngày 14/11/2023 Sau khi tiêu sài hết số tiền còn lại, T quay lại cửa hàng điện thoại của chị Hoa tại số 184 Yên Hòa để bán lại chiếc điện thoại Iphone 13 cho chị Hoa. Thấy T có nhiều biểu hiện nghi vấn nên chị Hoa đã báo Công an phường Yên Hòa đưa T về trụ sở làm việc. Tại cơ quan T đã đầu thú về hành vi phạm tội vủ mình.

Cơ quan Cơ quan công an đã thu giữ: 01 chiến xe máy máy Honda Vision, BKS: 23B1-656.17\; 01 đăng kí xe máy máy Honda Vision, BKS: 23B1-656.17; 01 chìa khóa Smartkey do anh Nguyễn Văn T1 giao nộp; 01 điện thoại Iphone 13 màu xanh; chùm chìa khóa gồm 03 chìa thu giữ của Nguyễn Tiến T; số tiền 12.600.000 đồng do chị Nguyễn Thị Hoa giao nộp.

Tại Kết luận định giá số 464/KL -HĐĐGTS ngày 15/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cầu Giấy kết luận: “Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 23B1-656.17 có giá 24.730.000 đồng; Điện thoại Vinsmart Joy4 màu xanh đen không đủ cơ sở định giá.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Cầu Giấy đã tiến hành dẫn giải Nguyễn Tiến T và người bị hại là chị Giàng Thị Chá để xác định hiện trường vụ trộm cắp tài sản nêu trên. Đối tượng Nguyễn Tiến T xác nhận hiện trường vụ án trộm cắp tài sản trên là số nhà 7 Ngõ 147, đường Yên Hòa, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Tiến T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của T phù hợp lời khai của bị hại, người có nghĩa vụ liên quan và phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 23B1-656.17, quá trinh̀ điều tra xác định là tài sản của chị Giàng Thị C nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị C. Chị C đã nhận lại chiếc xe trên, giấy tờ xe cùng chìa khóa và không có yêu cầu gì thêm.

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 13 màu trắng, quá trình điều tra và xác định tài sản đó là của chị Nguyễn Thị H nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho chị H. Chị H đã nhận lại chiếc điện thoại và không yêu cầu gì thêm.

Đối với số tiền 12.600.000 đồng, qua quá trình điều tra và xác định tài sản đó là của anh Nguyễn Văn T1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền đó cho anh T1. Anh T1 đã nhận lại số tiền này và yêu cầu T bồi thường thêm 6.900.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSCG ngày 26/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến T về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự.

Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T từ 18 tháng đến 22 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Vật chứng: Không có.

Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại số tiền 12.600.000 đồng và yêu cầu T bồi thường thêm 6.900.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 6.900.000 đồng.

Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng và Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy. Bị cáo nhận thức và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trinh̀ điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trinh điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếù nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 2h sáng ngày 12/11/2023, Nguyễn Tiến T đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy Honda Vision, BKS: 23B1-656.17 của chị Giàng Thị Chá và 01 chiếc điện thoại Vinsmart Joy4 màu xanh đen tại số 7 Ngõ 147 đường Yên Hòa, phường Yên Hòa,quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 24.300.000 đồng. Với hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Tiến T đã phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định khoản 1 Điều 173 BLHS.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo còn trẻ nhưng không chịu tu chí làm ăn, thực hiện hành vi trộm cắp có sự chuẩn bị ngay từ đầu sau đó đi lang thang tìm sơ hở của các chủ phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án, nên lần phạm tội này cần phải xử lý thật nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung.

Về tinh tiết tăng nặng trách nhiệm hì

nh sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự̀ nhưng về nhân thân đã bị xét xử năm 2017 (đã xóa án tích), khi quyết định hinh phạt̀ cần cân nhắc mức hinh phạt nghiêm đối với bị cáo.̀

Quá trình truy tố, xét xử, hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú nên áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hinh sự giảm cho bị cáo một phần hì

̀nh phạt.

Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.

. Về xử lý vật chứng: Không có.

. Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại số tiền 12.600.000 đồng và yêu cầu T bồi thường thêm 6.900.000 đồng. Hội đồng xét sử xét thấy: anh T1 mua bán tài sản có đầy đủ giấy tờ, giao dịch là hợp pháp. Tại phiên tòa bị cáo cũng nhận thức ra hành vi của mình và chấp nhận yêu cầu bồi thường của nguyên đơn dân sự, nên HĐXX buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 6.900.000 đồng.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Xử phạt bị Nguyễn Tiến T 18 (mười tám ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2023.

3. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 6.900.000 đồng (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng).

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 345.000đ (ba trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản bản án./.

Cỡ chữ