vanban.org

Bản án 43/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 341; điểm b, s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số …

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thành Ch phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Thành Ch 33 (Ba mươi ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Xuân Yên, h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ…"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 341; điểm b, s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số …
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST
Ngày 26-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trung Thông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Quân và bà Đậu Thị Thu Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/HSST-QĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Hoàng Thành Ch; tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/4/1990; nơi sinh: Huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Yên H, xã Xuân Yên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; CCCD số: 042090015246, cấp ngày: 24/7/2023, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông Hoàng Xuân L và bà Lê Thị V; Vợ Phạm Thị H và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/7/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Nghi Xuân; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Ông Hoàng Trung T; sinh năm: 1959; Nơi cư trú: TDP A thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Chi hội trưởng chi hội cựu chiến binh TDP A; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Chị Bùi Thị Tr; sinh năm: 1994; Nơi cư trú: TDP B thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Chị Lê Thị V; sinh năm: 1969; Nơi cư trú: Thôn Yên H, xã Xuân Yên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Nội trợ; Có mặt.

+ Chị Phạm Thị H; sinh năm: 2000; Nơi cư trú: Thôn Yên H, xã Xuân Yên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Chị Phan Thanh H; sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Thôn Yên L, xã Xuân Yên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 02/2022, Hoàng Thành Ch mua của ông Hoàng Trung T, trú tại tổ dân phố A, thị trấn Xuân An, Nghi Xuân, Hà Tĩnh một thửa đất có diện tích (7x20) m với giá 1.200.000.000 đồng, Ch đặt cọc cho ông T số tiền 390.000.000 đồng. Sau đó, hai bên thống nhất khi nào ông T hoàn thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSD đất) Ch sẽ chuyển đủ số tiền theo thoả thuận.

Đến khoảng tháng 6/2022, ông T thông báo đã có giấy CNQSD đất mang tên Hoàng Thành Ch và cho Ch xem giấy CNQSD đất. Ch dùng điện thoại của mình chụp ảnh lại giấy CNQSD đất và thấy diện tích thửa đất chỉ là (7x15) m chứ không phải diện tích (7x20) m như thoả thuận trước đó, nên Ch chưa đồng ý nhận giấy CNQSD đất và yêu cầu ông T làm lại giấy CNQSD đất theo diện tích đã thoả thuận thì mới trả đủ tiền. Do đó, ông T vẫn đang giữ giấy CNQSD đất nói trên.

Đầu tháng 5/2023, do cần tiền để sử dụng vào mục đích trả nợ và làm vốn kinh doanh, Ch đã nảy sinh ý định thuê người làm giả giấy CNQSD đất mang đi tráo đổi lấy giấy CNQSD đất thật nơi ông T để thế chấp ngân hàng vay tiền. Ch lên mạng xã hội tìm được tài khoản VŨ QUÝ NGỌC trên mạng xã hội Zalo (sử dụng số điện thoại 0799341067) chuyên làm giấy tờ giả. Ch liền dùng máy điện thoại của mình nhắn tin yêu cầu làm giấy CNQSD đất giả giống như giấy CNQSD đất của lô đất đang mua bán với ông T (đã được chụp trước đó) do Ch cung cấp, thì được chủ tài khoản VŨ QUÝ NGỌC đồng ý với giá 7.000.000 đồng. Đến ngày 16/6/2023, Ch nhận giấy CNQSD đất giả do một người giao hàng chuyển đến và trả cho người giao hàng số tiền 7.000.000 đồng. Ch thấy giấy CNQSD đất giả bị sai số seri mã vạch phía sau nên yêu cầu chủ tài khoản VŨ QUÝ NGỌC làm lại giấy CNQSD đất giả thứ hai.

Do Phan Thanh H, trú tại thôn Yên L, Xuân Yên, Nghi Xuân là bạn bè, thường qua lại, chung vốn làm ăn cùng nhau, nên Ch đã nhiều lần vay mượn tiền của H (không cần thế chấp, cầm cố) để sử dụng. Cuối tháng 5/2023, Ch cho H xem ảnh chụp giấy CNQSD đất của thửa đất nói trên và hỏi H nếu cầm cố thửa đất để vay tiền thì sẽ vay được bao nhiêu. H nói lại là, đối với thửa đất này chỉ cho vay được số tiền 500.000.000 đồng với lãi suất 2.500 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Ch đồng ý, nhưng do lãi suất cao nên chưa vay tiền ngay, mà liên hệ với nhân viên tín dụng của Ngân hàng Quân đội chi nhánh tỉnh Nghệ An, xin được thế chấp thửa đất để vay vốn.

Để có giấy CNQSD đất thế chấp ngân hàng, ngày 20/6/2023, Ch lên gặp ông T, nói dối ông T có người mua đất, cần mượn giấy CNQSD đất mà ông T đang giữ cho người mua xem, rồi sau đó Ch tráo đổi, đưa giấy CNQSD đất giả cho ông T và giữ lại giấy CNQSD đất thật (Ông T không biết việc Ch đã tráo đổi giấy CNQSD đất của mình).

Trong quá trình đang làm thủ tục vay tiền từ ngân hàng quân đội, do cần tiền nên Ch vay trước của H số tiền 48.500.000 đồng trong số tiền thoả thuận cầm cố giấy CNQSD đất. Sau khi cho Ch vay tiền, H nhiều lần thúc giục, yêu cầu Ch mang giấy CNQSD đất cho H cầm cố. Ngày 26/6/2023, Ch mang giấy CNQSD đất thật cùng với H đến Văn phòng Công chứng Lê Văn Hợi tại thôn Lam Thuỷ, xã Xuân Giang, Nghi Xuân để lập hợp đồng uỷ quyền, trong đó Ch uỷ quyền cho H được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt phần quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất trong thời gian 6 tháng. Sau khi ký kết hợp đồng uỷ quyền, Ch vẫn giữ lại giấy CNQSD đất, chứ không giao cho H, vì Ch nói đang cần có việc (mục đích Ch giữ giấy CNQSD đất để sau này thế chấp vay vốn ngân hàng) và được H đồng ý.

Đến ngày 07/7/2023, Ch nhận giấy CNQSD đất giả thứ hai từ người giao hàng. Lúc này, nhân viên Ngân hàng quân đội thông báo do có nợ xấu, Ch không đủ điều kiện được vay tiền tại ngân hàng quân đội. Ch liền liên hệ với H đề nghị được vay thêm tiền, nhưng H yêu cầu Ch phải đưa giấy CNQSD đất cho H, thì mới cho vay tiếp. Ngày 10/7/2023, Ch mang giấy CNQSD đất giả thứ hai đưa đến cho H, nhưng H không ở nhà, nên Ch đưa giấy CNQSD đất cho chồng H là Trịnh Văn N. Sau khi H gọi điện cho chồng xác nhận Ch đã giao giấy CNQSD đất, H đã chuyển cho Ch số tiền là 430.000.000 đồng, gồm hai khoản là 60.000.000 đồng H cho Ch vay không cần cầm cố và 370.000.000 đồng là số tiền còn lại trong khoản vay 500.000.000 đồng cầm cố giấy CNQSD đất (Hải đã trừ đi của Ch số tiền 48.500.000 đồng là số tiền Ch vay trước đó, 44.000.000 đồng là số tiền nợ cũ và 37.500.000 đồng là tiền lãi tháng 6 của khoản vay 500.000.000 đồng). Số tiền vay từ H, Ch dùng để thanh toán khoản thấu chi từ trước của ngân hàng quân đội, trả nợ và kinh doanh sim điện thoại số đẹp.

Đến đầu tháng 11/2023, H yêu cầu Ch trả tiền lãi, nếu không H sẽ bán thửa đất đã được Ch ủy quyền xử lý để thu hồi nợ. Ngày 11/12/2023, khi H mang giấy CNQSD đất uỷ quyền cho chị Bùi Thị Tr, trú tại tổ dân phố B, thị trấn Xuân An, Nghi Xuân, Hà Tĩnh làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ Ch sang cho gia đình anh Đặng Quang H, chị Nguyễn Thị Mai S ở Hoàng Mai, Hà Nội thì bị Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Nghi Xuân phát hiện giấy CNQSD đất mà H nộp trong hồ sơ là giấy CNQSD đất giả và chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Xuân giải quyết theo thẩm quyền.

- Tại Kết luận giám định số 209/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh đối với 01 giấy CNQSD đất thu giữ trong hồ sơ do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Nghi Xuân chuyển đến, kết luận: Mẫu dấu, chữ ký và phôi giấy CNQSD đất là giả.

- Tại Kết luận giám định số 479/KL-KTHS ngày 11/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh đối với 01 giấy CNQSD đất thu giữ của ông Hoàng Trung Tuyển, kết luận: Mẫu dấu, chữ ký và phôi giấy CNQSD đất là giả.

- Tại Kết luận giám định số 812/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh đối với 01 giấy CNQSD đất do Văn phòng đăng ký đất đai giao nộp (Đây là giấy CNQSD đất do Chung đến nộp cho Văn phòng đăng ký đất đai sau khi bị phát hiện giấy CNQSD đất trong hồ sơ đề nghị chuyển quyền sử dụng đất là giả), kết luận: Mẫu dấu, chữ ký và phôi giấy CNQSD đất là thật.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Xuân đã thu giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, vỏ phía sau màu đen, số Imei là 357278096799599, bên trong máy gắn sim số 0977873333, đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Thành Ch. 01 Giấy CNQSD đất thu từ hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai chuyển đến cơ quan điều tra; 01 Giấy CNQSD đất thu từ ông Hoàng Trung T và 01 Giấy CNQSD đất thu từ Văn phòng đăng ký đất đai do Hoàng Thành Ch nộp lại cho Văn phòng đăng ký đất đai sau đó Văn phòng đăng ký đất đai giao nộp lại cho cơ quan điều tra, chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về phần dân sự: Bị cáo Hoàng Thành Ch đã hoàn thành việc mua bán thửa đất nói trên với ông Hoàng Trung T, hiện nay ông T không có yêu cầu gì về dân sự. Chị Phan Thanh H không yêu cầu Ch phải trả lại số tiền đã vay mà thỏa thuận Ch sẽ chuyển quyền sử dụng thửa đất đã cầm cố cho H sau khi vụ việc được cơ quan chức năng giải quyết.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 41/CT –VKS-NX ngày 25/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân đã truy tố bị cáo Hoàng Thành Ch về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày nội dung vụ án như lời trình bày của bị cáo và nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hoàng Thành Ch phạm tội “Sử dụng giấy tờ tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, điều 341; điểm b, s, p khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thành Ch từ 33 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2023, Hoàng Thành Ch đã lên mạng xã hội Zalo, tìm đặt tài khoản VŨ QUÝ NGỌC (sử dụng số điện thoại 0799341067) làm giả 02 giấy CNQSD đất để thực hiện hành vi trái pháp luật. Lần thứ nhất vào ngày 20/6/2023, Ch lừa dối ông Hoàng Trung T, lấy giấy CNQSD đất giả đổi giấy CNQSD đất thật mà ông T đang giữ mang về sử dụng; lần thứ hai vào ngày 10/7/2023 Ch sử dụng giấy CNQSD đất giả thực hiện hành vi gian dối trong giao dịch dân sự, cầm cố cho Phan Thanh H để được vay số tiền 500.000.000 đồng.

Tại các Kết luận giám định số 209/KL-KTHS ngày 17/01/2024 và Kết luận giám định số 479/KL-KTHS ngày 11/3/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gửi đến trưng cầu giám định là giấy chứng nhận giả.

Hành vi của bị cáo Hoàng Thành Ch sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để tráo đổi với Giấy chứng nhận thật của ông Hoàng Trung T và sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả tạo lòng tin và cam kết việc trả nợ cho chị Phan Thanh H. Bị cáo thực hiện hành vi khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Bị cáo hai lần sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính về tài liệu của Nhà nước. Bị cáo ý thức được hành vi sử dụng giấy tờ tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; Bị cáo đã khắc phục hậu quả cho ông Hoàng Trung T và chị Phan Thanh H; Bị cáo là người khuyết tật nặng; những người liên quan có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX thấy rằng: Mặc dù bị cáo phạm tội 02 lần nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng; Bị cáo là người khuyết tật nặng thuộc đối tượng được trợ cấp xã hội hàng tháng; bị cáo hiện bị bệnh viêm cột sống dính khớp đã thay khớp háng nhân tạo 2 bên và bệnh viêm gan B nên việc đi lại, sinh hoạt rất khó khăn, việc đưa bị cáo vào cơ sở giam giữ sẽ không đảm bảo các điều kiện y tế cần thiết để bị cáo điều trị bệnh. Hơn nữa bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người khuyết tật nặng thuộc đối tượng được trợ cấp xã hội hàng tháng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này, đối với người sử dụng tài khoản Zalo là VŨ QUÝ NGỌC có số thuê bao điện thoại 0799341067 để làm giả giấy CNQSD đất cho Hoàng Thành Ch. Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân đã xác minh số thuê bao trên mang tên là VÕ TẤN PHƯỚC và xác định có người tên là Võ Tấn Ph, trú tại KV8, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, ông Ph không sử dụng số thuê bao 0799341067 cũng như không biết ai tên là Vũ Quý Ngọc nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người giao hàng giấy CNQSD đất giả cho Hoàng Thành Ch (02 lần), quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.

Đối với Phan Thanh H đã uỷ quyền chị Bùi Thị Tr làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ Hoàng Thành Ch sang cho gia đình anh Đặng Quang H, chị Nguyễn Thị Mai S ở Hoàng Mai, Hà Nội. Quá trình làm hồ sơ thì bị Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Nghi Xuân phát hiện giấy CNQSD đất mà H nộp trong hồ sơ là giấy CNQSD đất giả. Quá trình điều tra xác định, H không biết việc Chung mang giấy CNQSD đất giả cầm cố cho mình để vay tiền; chị Bùi Thị Tr, anh Đặng Quang H và chị Nguyễn Thị Mai S không biết giấy CNQSD đất mà H đang làm thủ tục chuyển quyền sử dụng là giấy CNQSD đất giả nên không có cơ sở xem xét xử lý.

Đối với hành vi Phan Thanh H là người đã cho Hoàng Thành Ch vay số tiền 500.000.000 đồng với lãi suất 90%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 37.500.000 đồng nhưng tỷ lệ lãi suất nhỏ hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Quá trình điều tra xác định Phan Thanh H chưa có tiền án, tiền sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do đó, Công an huyện Nghi Xuân đã có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND huyện Nghi Xuân ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Thanh H, đồng thời truy thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính số tiền 37.500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, vỏ phía sau màu đen, số Imei là 357278096799599 thu giữ của Hoàng Thành Ch đây là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với sim số 0977873333, đã qua sử dụng hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 Giấy CNQSD đất thu từ hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai chuyển đến cơ quan điều tra ; 01 Giấy CNQSD đất thu từ ông Hoàng Trung T đây là các Giấy CNQSD đất giả hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ.

Đối với 01 Giấy CNQSD đất thu từ Văn phòng đăng ký đất đai do Hoàng Thành Ch nộp lại cho Văn phòng đăng ký đất đai sau đó Văn phòng đăng ký đất đai giao nộp lại cho cơ quan điều tra hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án; đây là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là là người khuyết tật nặng thuộc đối tượng được trợ cấp xã hội hàng tháng nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 341; điểm b, s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thành Ch phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Thành Ch 33 (Ba mươi ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Xuân Yên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Về vật chứng: Lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 02 (Hai) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật trả lại cho bị cáo Hoàng Thành Ch 01 Giấy CNQSD đất thu từ Văn phòng đăng ký đất đai do Hoàng Thành Ch nộp lại cho Văn phòng đăng ký đất đai sau đó Văn phòng đăng ký đất đai giao nộp lại cho cơ quan điều tra hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, vỏ phía sau màu đen, số Imei là 357278096799599.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0977873333, đã qua sử dụng.

Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/10/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân.

5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Thành Ch.

6. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ