vanban.org

Bản án 43/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc B phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Quốc B 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Quốc Bảo - 341 - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 34…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc B phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 43/2024/HS-ST
Ngày 18-7-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vƣơng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trƣơng Hữu Bình;

2. Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ, là Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Dầu Tiếng tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Quốc B, sinh năm 1997 tại tỉnh Ninh Thuận; nơi cƣ trú: Khu phố A, phƣờng Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Đỗ Bá P và bà Nguyễn Thị Bích T; bị cáo trình bày có vợ vào tháng 10/2023 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào năm 2020, Đỗ Quốc B đƣợc ông Mai Võ Trƣờng L thuê làm tài xế xe ô tô tải. Đến tháng 8/2021, thì B nghỉ việc, không làm cho ông L nữa vì B không có Giấy phép lái xe hạng FC để điều khiển xe ô tổ đầu kéo theo Sơ mi rơ móoc. Đến tháng 6/2022, B lên trang mạng xã hội Facebook dùng tài khoản cá nhân tên “Quốc Bảo” và nhìn thấy trên trang mạng xã hội (không rõ tài khoản nào) đăng Giấy phép lái xe hạng FC mang tên Trần Văn T1, sinh ngày 13/02/1998, địa chỉ L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận nên dùng điện thoại chụp lại thông tin và tiếp tục tìm đƣợc 01 tài khoản trên mạng xã hội Facebook (không nhớ tài khoản nào) nhận làm giấy phép lái xe giả nên B đã liên hệ với tài khoản Facebook nói trên và cung cấp thông tin Giấy phép lái xe hạng FC mang tên Trần Văn T1, sinh ngày 13/02/1998, nơi cƣ trú L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận và hình ảnh của B để làm giả với giá tiền 1.500.000 đồng, sau đó đƣợc 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) giao Giấy phép lái xe hạng FC số 750128006278, mang tên Trần Văn T1, sinh ngày 13/02/1988, nơi cƣ trú L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 05/7/2022, có giá trị đến ngày 05/7/2027. Sau khi có Giấy phép lái xe hạng FC mang tên Trần Văn T1 thì đến tháng 8/2022, B đến gặp ông Mai Võ Trƣờng L nói là đã nâng giấy phép lái xe lên hạng FC nên xin làm việc lại cho ông L. Do tin tƣởng B từng làm việc cho mình và đã từng cung cấp giấy tờ tùy thân cũng nhƣ Giấy phép lái xe hạng C trƣớc đó nên ông L không kiểm tra lại Giấy phép lái xe hạng FC của B mà đồng ý nhận B vào làm việc. Đồng thời giao Bảo quản l và sử dụng xe ô tô đầu kéo biển số 61H-061.12 kéo theo Sơ mi rơ móoc biển số 61R – 048.59 với công việc là chở cát đƣợc trả tiền công 300.000 đồng/01 chuyến và giao toàn bộ Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ số EA 0637429 của Sơ mi rơ moóc biển số 61R – 048.59 (hết thời hạn đăng kiểm ngày 20/3/2023) và Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ số EA 1393524 (hết hạn đăng kiểm ngày 19/8/2023) cho Bảo quản l và sử dụng nếu khi hết hạn kiểm định thì B có trách nhiệm tự đi kiểm định sau đó báo ông L để nhận lại chi phí đã kiểm định.

Ngày 15/3/2023, B biết thời hạn kiểm định của Sơ mi rơ moóc biển số 61R – 048.59 chuẩn bị hết thời hạn đăng kiểm vào ngày 20/3/2023. Lúc này, B không đi đến các trung tâm đăng kiểm và cũng không trao đổi với ông L mà tự ý lên trang mạng xã hội nơi làm giả giấy tờ và tìm thấy tài khoản có thông tin “Dịch vụ giấy tờ chuyên nghiệp”, thì B đã nhắn tin liên hệ để làm giả 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ cho Sơ mi rơ móoc biển số 61R – 048.59 với giá 1.500.000 đồng, đồng thời B cung cấp hình ảnh Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ số EA 0637429 của Sơ mi rơ móoc biển số 61R – 048.59 và tem kiểm định thì tài khoản trên cho B số thuê bao "0899523596" để kết bạn zalo thanh toán tiền, Khi kết bạn zalo thì thông tin tài khoản “Alexia” gửi thông tin số tài khoản “711755799" tên chủ tài khoản “Tran Huynh Duy A” Ngân hàng M và thông báo sẽ có ngƣời chạy xe mô tô Grap đến giao hàng.

Cùng ngày, có 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) đến địa chỉ nơi làm việc của B tại khu phố E, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng giao cho B 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ số EA 0637429 của Sơ mi rơ móoc biển số 61R – 048.59 có thời hạn đến ngày 19/3/2024 và 01 tem kiểm định của Sơ mi rơ moóc biển số 61R – 048.59 có thời hạn đến tháng 3/2024 do Chi nhánh đăng kiểm 61.03S cấp. Lúc này B đƣa cho nam thanh niên trên 100.000 đồng, còn số tiền còn lại là 1.400.000 đồng B nhờ ông L chuyển khoản đến số tài khoản “711755799” tên chủ tài khoản “Tran Huynh Duy A” Ngân hàng M mà không nói lý do chuyển tiền, do ông L thƣờng đƣợc B nhờ chuyển khoản nên ông L cũng không thắc mắc gì.

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 01/7/2023 tại đoạn đƣờng Đ thuộc xã M, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng tổ tuần tra kiểm soát thuộc Đ, Công an huyện D phát xe ô tô đầu kéo biển số 61H – 061.12, nhãn hiệu CNHTC, số máy 043277, số khung 791660, màu sơn: Đỏ kéo theo sơmi rơ móoc tải (tự đổ) biển số 61R-048.59 vi phạm: Chở hàng rời (cát xây dựng) có bạt che đậy nhƣng vẫn để rơi vãi trên đƣờng nên đã tiến hiện lập biên bản số 16192/BB-VPHC đối với tài xế là ông Trần Văn T1, sinh ngày 13/2/1988, nơi thƣờng trú: Lƣơng Cang 2, N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận điều khiển. Quá trình làm việc ông T1 cung cấp 01 giấy phép lái xe hạng FC số 750128006278 mang tên Trần Văn T1 và 01 tem kiểm định sơmi rơ móoc tải (tự đổ) biển số 61R-048.59 và 02 giấy chứng nhận kiểm định, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng số EA-1393524 và EA-0637429.

Qua tra cứu thông tin tại Cổng thông tin điện tử Cục Đ1 phát hiện: 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 750128006278 mang tên Trần Văn T1; 01 Giấy chứng nhận và Tem kiểm định, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng EA-0637429 không do cơ quan có thẩm quyền cấp. Ngày 17/7/2023 Đ2 và trật tự Công an huyện D đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D để thụ lý theo thẩm quyền.

Qua điều tra làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D xác định: Trần Văn T1 tên thật là Đỗ Quốc B đã có giấy phép lái xe hạng C số 790197039333, do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 18/02/2019 có thời hạn đến ngày 18/02/2024.

Kết luận giám định số 516/KL-KTHS (TL) ngày 30/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Phôi và hình dấu tròn trên “Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ” số EA0637429, đề ngày 20/3/2023 (ký hiệu A1), 01 tem đăng kiểm đề “ * BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI * CỤC ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM”, có hiệu lực đến ngày 19/3/2024 Bảo vệ môi trƣờng (ký hiệu A2) là giả bằng phƣơng pháp in phun màu điện tử; 01 “Giấy phép lái xe (PET)” số 750128006278, mang tên “Trần Văn T1”, sinh năm: 1988, nơi cƣ trú: X . N, H. N, T2 Ninh Thuận đề ngày 05/7/2022 (ký hiệu A3) là giả.

Ngày 13/9/2023, Sở Giao thông vận tải tỉnh N có công văn số 2401/SGTVT-QLVT về việc trả lời xác minh thông tin Giấy phép lái xe số 750128006278 (750128006273) hạng FC. Kết quả nhƣ sau: Sở Giao thông vận tải tỉnh N không cấp Giấp phép lái xe số 750128006278 hoặc số 750128006273 hạng FC cho ngƣời có tên Trần Văn T1, sinh ngày 13/02/1988, nơi cƣ trú: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đối với ông Trần Huỳnh Duy A1 là chủ sở hữu của tài khoản Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Q. Quá trình điều tra, ông Trần Huỳnh Duy A1 đã rời khỏi địa phƣơng, không rõ địa chỉ cụ thể nên chƣa thể làm việc, do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D tiếp tục xác minh làm rõ.

Cáo trạng số 35/CT-VKS-DT ngày 29 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân huyện D, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Đỗ Quốc B về tội “Sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng rút một phần truy tố của Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Đỗ Quốc B từ 08 tháng đến 10 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ” số EA0637429; 01 tem kiểm định an toàn kỹ thuật, biển đăng ký 61R-048.59; 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 750128006278. Xét thấy, đây là vật chứng và cũng là chứng cứ của vụ án nên cần lƣu vào hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31, màu đen, số IMEI1: 860646042823111, điện thoại không có sim, bị vỡ màn hình phía trên và dƣới góc bên trái, khó sử dụng. Quá trình điều tra xác định bị can Đỗ Quốc B sử dụng điện thoại trên vào mục đích phạm tội. Do đó, đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách nhà nƣớc đối với 01 điện thoại trên .

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của ngƣời tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Do có nhu cầu làm giả giấy phép lái xe hạng FC và Giấy chứng nhận đăng kiểm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ để sử dụng nên Đỗ Quốc B có hành vi cung cấp hình ảnh giấy chứng nhận đăng kiểm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ đã hết hạn của Sơ mi rơ moóc biển số 61R-048.59, giấy phép lái xe hạng FC số 750128006278 mang tên Trần Văn T1 và hình ảnh của B cho một đối tƣợng nam (không rõ nhân thân lai lịch) để làm giả 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ; 01 tem đăng kiểm; 01 giấy phép lái xe hạng FC để sử dụng. Ngày 01/7/2023, B sử dụng để trình cho tổ tuần tra kiểm soát thuộc Đ, Công an huyện D thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Cáo trạng số 35/CT-VKSDT ngày 29 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Đỗ Quốc B theo tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng dã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội, trật tự quản lý hành chính; ảnh hƣởng đến sự hoạt động bình thƣờng và uy tín của cơ quan, tổ chức, xâm phạm lợi ích của Nhà nƣớc, công dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt cho phù hợp.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động, chƣa có tiền án, tiền sự.

Xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Đối với 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ” số EA0637429; 01 tem kiểm định an toàn kỹ thuật, biển đăng ký 61R-048.59; 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 750128006278 đây là vật chứng của vụ án nên lƣu vào hồ sơ vụ án là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31, màu đen, số IMEI1: 860646042823111, điện thoại không có sim, bị vỡ màn hình phía trên và dƣới góc bên trái, khó sử dụng, bị cáo Đỗ Quốc B sử dụng điện thoại trên vào việc phạm tội. Cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nƣớc đối với 01 điện thoại trên.

Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, trong tình hình hiện nay việc làm giả và sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan tổ chức ngày càng nhiều, gây ảnh hƣởng đến uy tín của các cơ quan, tổ chức. Do đó đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự thì ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu 01 phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ sức giáo dục, cải tạo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Mức hình phạt nhƣ Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là nhẹ nên không đƣợc chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc B phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Quốc B 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đến khi bị cáo đi chấp hành án.

2. Xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31, màu đen, số IMEI1: 860646042823111, điện thoại không có sim, bị vỡ màn hình phía trên và dƣới góc bên trái, khó sử dụng.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ Quốc B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ