- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thị Kim D tranh chấp ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Văn S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trƣơng Thị Kim D về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với anh Nguyễn Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG ——————— Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày 27-3-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Trần Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh- Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 495/2023/TLST – HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HN ngày 19 tháng 02 năm 2024, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Trƣơng Thị Kim D, sinh năm 1999; thƣờng trú: Ấp T, xã T, huyện N, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Số E, đƣờng N, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1989; thƣờng trú: Ấn Nhà Phấn G, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Số E đƣờng N, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 11 năm 2023, lời khai trong quá trình tố tụng, chị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trƣơng Thị Kim D và anh Nguyễn Văn S sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức đám cƣới và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 146/2019, ngày 10/12/2019.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại số E, đƣờng N, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, kinh tế khó khăn, anh S còn đánh bạc dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh S.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Trƣơng Phúc H, sinh ngày 03/8/2021, hiện đang sống cùng chị D. Sau ly hôn, chị D yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh S cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/01/2024, bị đơn anh Nguyễn Văn S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh S thống nhất về thời gian tìm hiểu, điều kiện kết hôn và thời gian chung sống của hai vợ chồng. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, anh S không có việc làm nên kinh tế gia đình khó khăn dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau, cuộc sống không hạnh phúc, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Anh S chuyển đến địa chỉ 5 đƣờng N, khu phố B sinh sống. Anh S xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, tuy nhiên chị D yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Trƣơng Phúc H, sinh ngày 03/8/2021. Sau ly hôn anh S yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu chị Trƣơng Thị Kim D cấp dƣỡng nuôi con. Hiện nay, anh S làm thợ hồ thu nhập 01 ngày là 500.000 đồng, thời gian làm việc từ 07 giờ đến 11 giờ và từ 13 giờ đến 17 giờ hàng ngày, không tăng ca. Do làm công việc tự do nên không có hợp đồng lao động để cung cấp cho Tòa án.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
+ Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của các đƣơng sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 08/3/2024, ngày 27/3/2024 nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự là đúng quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết án: Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trƣơng Thị Kim D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 08/3/2024, ngày 27/3/2024 nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự.
Về nội dung: Chị Trƣơng Thị Kim D và anh Nguyễn Văn S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 146/2019 ngày 10 tháng 12 năm 2019 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị D thấy rằng: Anh S và chị D đều xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau, cuộc sống không hạnh phúc nên anh chị đã sống ly thân. Theo biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân tại UBND phƣờng A ngày 24/02/2024 thể hiện: Chị D và anh S không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng hòa giải nên mâu thuẫn của chị D và anh S chính quyền địa phƣơng không rõ. Xét mâu thuẫn vợ chồng chị D và anh S đã thực sự trầm trọng, quá trình tố tụng anh S cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị D. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị D.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Trƣơng Phúc H, sinh ngày 03/8/2021. Anh S và chị D đều có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung. Xét thấy, cháu H hiện còn nhỏ (dƣới 36 tháng tuổi) và đang sống trực tiếp cùng với chị D, do đó để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho con chƣa thành niên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung cho chị D trực tiếp nuôi dƣỡng.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Chị D tự nguyện không yêu cầu anh S cấp dƣỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị D nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trƣơng Thị Kim D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trƣơng Thị Kim D về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với anh Nguyễn Văn S.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trƣơng Thị Kim D đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn S (Giấy chứng nhận kết hôn số kết hôn số 146/2019 tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau cấp ngày 10/12/2019).
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trƣơng Phúc H, sinh ngày 03/8/2021 cho chị Trƣơng Thị Kim D trực tiếp nuôi dƣỡng
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trƣơng Thị Kim D không yêu cầu anh Nguyễn Văn S cấp dƣỡng nuôi con.
Sau ly hôn, chị Trƣơng Thị Kim D và anh Nguyễn Văn S đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không có quyền cản trở ông, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trƣơng Thị Kim D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001431 ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật/.
| Nơi nhận: - Đƣơng sự; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VP, HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHẰNG TÒA Đỗ Thị Liễng |