- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị D được ly hôn với bị đơn ông Đinh Đồng Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-4-2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Công Hạnh và bà Phan Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 448/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1978; Địa chỉ: thôn M, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Đinh Đồng Đ, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu phố N, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày: Nguyên đơn và bị đơn ông Đinh Đồng Đ tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2010, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2010, ngày 16 tháng 6 năm 2010. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì xảy ra mâu thu n. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên không có hạnh phúc. Hiện vợ chồng đã sống ly thân mười năm nay, nguyên đơn và các con sinh sống tại tỉnh Lâm Đồng, bị đơn sinh sống tại tỉnh Phú Yên, không ai còn quan tâm và chăm sóc l n nhau. Nay xét thấy mâu thu n đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn bà Lê Thị D yêu cầu được giải quyết ly hôn với bị đơn ông Đinh Đồng Đ.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Đinh Hoàng T, sinh ngày 01/3/2010; Đinh Lê Ngọc A, sinh ngày 25/12/2013 (hiện các con đang ở với nguyên đơn). Cháu Đinh Hoàng T bị khuyết tật về trí tuệ - tự kỷ, được Uỷ ban nhân dân xã Đ cấp Giấy xác nhận khuyết tật số hiệu 68, ngày 10/3/2015. Ly hôn, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Đinh Đồng Đ vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Lê Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên ý kiến trình bày. Bị đơn ông Đinh Đồng Đ vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị D được ly hôn với bị đơn ông Đinh Đồng Đ. Về con chung: Giao hai con chung tên Đinh Hoàng T, sinh ngày 01/3/2010; Đinh Lê Ngọc A, sinh ngày 25/12/2013 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn bà Lê Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bị đơn ông Đinh Đồng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lê Thị D xin ly hôn với bị đơn ông Đinh Đồng Đ là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố T đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn để hòa giải và xét xử nhưng bị đơn vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lê Thị D và bị đơn ông Đinh Đồng Đ tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2010, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2010, ngày 16 tháng 6 năm 2010 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, phát sinh những mâu thu n như nguyên đơn trình bày. Xét thấy, mâu thu n giữa các đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn bà Lê Thị D được ly hôn với bị đơn ông Đinh Đồng Đ.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Đinh Hoàng T, sinh ngày 01/3/2010; Đinh Lê Ngọc A, sinh ngày 25/12/2013. Ly hôn, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nguyện vọng của cháu A. Đối với cháu T bị khuyết tật về trí tuệ - tự kỷ, mức độ nặng, được Uỷ ban nhân dân xã Đ cấp Giấy xác nhận khuyết tật số hiệu 68, ngày 10/3/2015 nên rất cần sự chăm sóc của người m và thực tế các con do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao hai con chung tên Đinh Hoàng T, sinh ngày 01/3/2010; Đinh Lê Ngọc A, sinh ngày 25/12/2013 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn bà Lê Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bị đơn ông Đinh Đồng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị D được ly hôn với bị đơn ông Đinh Đồng Đ.
Về con chung: Giao hai con chung tên Đinh Hoàng T, sinh ngày 01/3/2010; Đinh Lê Ngọc A, sinh ngày 25/12/2013 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn bà Lê Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bị đơn ông Đinh Đồng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về án phí HNGĐ-ST: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn bà Lê Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0012615 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh P; - VKSND TP. T; - Chi cục THADS TP. T; - UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Vân |