vanban.org

Bản án 43/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H C Triêk với anh Lê Đình Đ.

Về con chung: Giao cháu Lê Thị Bảo N, sinh ngày 14/01/2017 và cháu Lê Thị Thủy T, sinh ngày 05/8/2019 cho chị H C Triêk trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H C Triêk với anh Lê Đình Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
T NH ẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày 20-9-2024
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, T NH ẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Y Míp Niê;

2. Ông Phan Ngọc Đài;

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Chị H C Triêk, sinh năm 1997; trú tại: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (có mặt);

- Bị đơn: Anh Lê Đình Đ, sinh năm 1992; trú tại: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị H C Triêk trình bày: Chị H C và anh Đ là vợ chồng và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 10/5/2016 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên, từ cuối năm 2022 cho tới nay vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hòa thuận, thường xuyên to tiếng trong gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho tới nay. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H C đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Đình Đ.

Về con chung: Có 02 con chung: Cháu Lê Thị Bảo N, sinh ngày 14/01/2017 và cháu Lê Thị Thủy T, sinh ngày 05/8/2019. Các con chung phát triển bình thường. Vì ông bà nội thường xuyên ốm đau, anh Đ không có công việc ổn định nên không đủ điều kiện để chăm sóc các cháu nên. Từ khi sống ly thân cho tới nay thì các con chung đang sống với chị H C tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Nguyện vọng sau khi ly hôn chị H C là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu anh Lê Đình Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tham gia tố tụng bị đơn anh Lê Đình Đ trình bày: Về quan hệ hôn nhân đúng như chị H C Triêk đã trình bày. Anh Đ với chị H C Triêk là vợ chồng và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 10/5/2016 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Trong cuộc sống vợ chồng không thể tránh khỏi những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong gia đình, lời qua tiếng lại nhưng chưa đến mức trầm trọng để ly hôn. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho tới nay. Nay, chị H C Triêk khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì anh Đ không đồng ý ly hôn với chị H C Triêk.

Về con chung: Có 02 con chung, cụ thể: cháu Lê Thị Bảo N, sinh ngày 14/01/2017 và cháu Lê Thị Thủy T, sinh ngày 05/8/2019. Các con chung phát triển bình thường. Từ khi sống ly thân cho tới nay thì các con chung đang ở với chị H C Triêk tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Nếu phải ly hôn thì nguyện vọng tôi được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Lê Đình Đ đồng ý ly hôn với chị H C Triêk và đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Về con chung anh Đ có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến ngày xét xử vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đưa vụ án ra xét xử đúng hạn luật định, thủ tục mở phiên tòa đảm bảo. Nguyên đơn, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai và ý kiến của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H C Triêk với anh Lê Đình Đ.

Về con chung: Giao cháu Lê Thị Bảo N, sinh ngày 14/01/2017 và cháu Lê Thị Thủy T, sinh ngày 05/8/2019 cho chị H C Triêk trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Anh Lê Đình Đ có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu ly hôn nên nguyên đơn chị H C Triêk phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của Kiểm sát viên, đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ kiện “Ly hôn” và bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: H C Triêk với anh Lê Đình Đ cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk ngày 10/5/2016. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của chị H C với anh Đ là hợp pháp. Vì vậy, chị H C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị H C Triêk với anh Lê Đình Đ thống nhất thuận tình ly hôn. Sự tự nguyện ly hôn hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H C Triêk với anh Lê Đình Đ.

[2.2] Về con chung: Cháu Lê Thị Bảo N, sinh ngày 14/01/2017 và cháu Lê Thị Thủy T, sinh ngày 05/8/2019. Các con chung phát triển bình thường. Quá trình giải quyết vụ án cả chị H C và anh Đ đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy sau khi sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho tới nay thì các con chung đang sống cùng với chị H C tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Cháu Lê Thị Bảo N mới bắt đầu năm học mới của lớp 2, cháu Lê Thị Thủy T còn nhỏ đang học mẫu giáo nên cần sự chăm sóc của mẹ. Hơn nữa, các con chung cũng đều là con gái. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý, tránh xáo trộn về tâm lý, ổn định cuộc sống, học tập của các cháu nên cần giao các con chung cho chị H C Triêk trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Lê Thị Bảo N, sinh ngày 14/01/2017 là muốn được ở với mẹ.

Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Anh Lê Đình Đ có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn nên nguyên đơn chị H C Triêk phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0011719 ngày 25/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H C Triêk với anh Lê Đình Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Thị Bảo N, sinh ngày 14/01/2017 và cháu Lê Thị Thủy T, sinh ngày 05/8/2019 cho chị H C Triêk trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Anh Lê Đình Đ có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn chị H C Triêk phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0011719 ngày 25/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N. Chị H C Triêk không phải nộp thêm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ