- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn anh Trần Thanh T với bị đơn anh Lê Thế H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2024/DS-ST Ngày: 26 - 4 - 2024 V/v tranh chấp đòi lại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Thắng.
Bà Trần Thị Mỹ Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tỏa - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thân Mến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 370/2023/TLST-DS, ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-DS ngày 05/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QĐST-DS ngày 19/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Thanh T, sinh năm 1995.(có mặt)
Địa chỉ: khóm A, phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Anh Lê Thế H. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Vĩnh Đ, xã Vĩnh Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ liên hệ: ấp Vĩnh T, xã Vĩnh Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn nội dung khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Thanh T trình bày:
Nguyên giữa anh và anh H có quen biết, có số điện thoại và nhắn tin qua lại với nhau thông qua mạng xã hội Zalo. Đến ngày 29/8/2023 dương lịch thì anh H có đến nhà anh để mua gạo và bán lại cho người khác. Hai bên chỉ thỏa thuận miệng mua bán với nhau mà không có làm hợp đồng. Anh H có mua nhiều loại gạo với tổng số tiền 38.812.000 đồng và trả cho anh được số tiền 20.000.000 đồng và hiện còn nợ lại số tiền là 18.812.000 đồng. Sau đó, anh đã chụp hóa đơn và gửi qua Zalo cho anh H và anh H cũng xác nhận. Anh H có hứa là để gom tiền khách hàng xong sẽ trả cho anh. Tuy nhiên, anh H cứ hứa mà đến nay vẫn không trả.
Nay anh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Lê Thế H trả cho anh số tiền còn nợ là 18.812.000 đồng.
- Bị đơn anh Lê Thế H vắng mặt, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, phía bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử (HĐXX) đúng thành phần, thực hiện đầy đủ các thủ tục, trình tự khi xét xử vụ án. Các đương sự chấp hành tốt nội quy phiên tòa và quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
- Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền mua gạo còn nợ. Đồng thời, bị đơn có địa chỉ: tại ấp Vĩnh Đ, xã Vĩnh Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng nên quan hệ pháp luật tranh chấp được HĐXX xác định là “Tranh chấp đòi lại tài sản” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn. Tòa án đã tống đạt hợp lệ lần thứ 02 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền gạo còn nợ là 18.812.000 đồng. Xét thấy, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện phía nguyên đơn cung cấp các tin nhắn Zalo qua lại giữa nguyên đơn với người dùng có tên nick Zalo là “Hia H Mua Gạo”. Qua tin nhắn Zalo thì người dùng có tên nick Zalo là “Hia H Mua Gạo” thừa nhận có mua gạo và hiện còn nợ nguyên đơn số tiền là 18.812.000 đồng. Đồng thời, tại biên bản xác minh ngày 04/4/2024 bà Trần Thị M cung cấp thông tin như sau: “…Lê Thế H là con ruột của bà, trước đây Hiển có kinh doanh đồ gia dụng và mua bán gạo. H bắt đầu mua bán từ năm 2016, lúc đầu thì mua bán cũng được. Tuy nhiên, khi dịch Covid phát sinh thì H kinh doanh, mua bán không được nên phát sinh nợ nhiều người, nhưng bà không biết cụ thể thiếu bao nhiêu? thiếu ai? nhưng bà biết trong đó có thiếu tiền gạo. Bà biết được là do lúc Hiển bỏ đi Thành phố làm thuê khoảng tháng 9 năm 2023 thì có người đến hỏi và đòi tiền gạo…”. Đồng thời, trong quá trình thụ lý và giải quyết bị đơn cũng không có ý kiến đối với các tài liệu nguyên đơn cung cấp. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ là 18.812.000 đồng đồng là có cơ sở theo quy định tại Điều 166 và Điều 280 của Bộ luật dân sự nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn không phải chịu án phí.
Từ những phân tích nêu trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 và Điều 280 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Thanh T.
Buộc bị đơn anh Lê Thế H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn anh Trần Thanh T số tiền còn nợ là 18.812.000 đồng (mười tám triệu tám trăm mười hai ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Buộc bị đơn anh Lê Thế H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 940.600 đồng (chín trăm bốn mươi ngàn sáu trăm đồng).
+ Nguyên đơn anh Trần Thanh T không phải chịu án phí. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí nguyên đơn anh T đã nộp 470.300 đồng (bốn trăm bảy mươi ngàn ba trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002500 ngày 13/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thị xã Ngã Năm; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục THADS thị xã Ngã Năm; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Phước Toàn |