vanban.org

Bản án 43/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 03/04/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ phần PĐ

Buộc ông Lưu Huỳnh Kh có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần PĐ số tiền tính đến ngày 03.4.2024 tổng cộng 771.853.651 đồng (bảy trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm năm mươi mốt đồng); trong đó nợ gốc 675.829.915 đồng; lãi trong hạn 4.165.206 đồng, lãi quá hạn 88.303… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ phần PĐ
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/DS-ST
Ngày: 03.4.2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH,TỈNH TÂY NINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Bình

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Tấn Phát

2. Bà Nguyễn Thị Kim Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh - là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát tp Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Tiểu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tp Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 523/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023,về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP PĐ (OCB); địa chỉ cũ: Số 41-45, đường Lê D, phường Bến N, quận 1, tp HCM; địa chỉ mới: Số 135, đường Trần Hưng Đ, phường Cầu Ông L, quận 1, tp HCM. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Quang C. Chức vụ: Giám đốc chi nhánh Tây Ninh, theo văn bản ủy quyền số 16/2023/UQ-CTHĐQT ngày 14.3.2023; ông C ủy quyền cho ông Phạm Ngọc M, sinh năm 1993; chức vụ: Chuyên viên chính thu hồi nợ hiện trường- Phòng thu hồi nợ; địa chỉ: Số 135, đường Trần Hưng Đ, phường Cầu ông L, quận 1, tp H C M, theo giấy ủy quyền số: 7013/2023/UQ-OCB ngày 13.7.2023 tham gia tố tụng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lưu Huỳnh Kh, sinh năm 1990; địa chỉ: Số 7, đường Nguyễn Hữu Th, khu phố HT, phường HN, tp Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 7 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Ngọc M người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 11/6/2021, Ngân hàng TMCP PĐ – Chi nhánh Tây Ninh và ông Lưu Huỳnh Kh ký hợp đồng tín dụng số 0122/2021/HĐTD-OCB-CN cho ông Kh vay số tiền 890.000.000 đồng (tám trăm chín mươi triệu) mục đích mua xe ô tô, thời hạn vay 96 tháng, lãi suất 8,2%/ năm cố định trong 12 tháng đầu, từ tháng 13 trở đi lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 6 tháng/ lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Ngày 11.7.2021 đến ngày 03.7.2023 ông Kh trả được số tiền 382.425.010 đồng, trong đó tiền gốc 214.170.085 đồng, tiền lãi 168.254.925 đồng thì ngưng cho đến nay không trả nữa. Nợ gốc hiện tại là 675.829.915 đồng (sáu trăm bảy mươi lăm triệu, tám trăm hai mươi chín nghìn, chín trăm mười lăm đồng)

Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Lưu Đình Kh phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 03.4.2024, tổng cộng: 771.853.651 đồng; trong đó nợ gốc 675.829.915 đồng; lãi trong hạn 4.165.206 đồng, lãi quá hạn 88.303.056 đồng, chậm trả 3.555.474 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0122/2021/HĐTD-OCB-CN. Khi vay ông Kh có thế chấp cho Ngân hàng 01 giấy xe ô tô con biển số 70A31445 Ngân hàng không yêu cầu giải quyết tài sản thế chấp.

Bị đơn ông Lưu Đình Kh đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không đến Tòa nên không có lời trình bày.

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

+ Về nội dung: Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ phần PĐ. Buộc ông Lưu Huỳnh Kh có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần PĐ số tiền tính đến ngày 03.4.2024 tổng cộng 771.853.651 đồng (bảy trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm năm mươi mốt đồng); trong đó nợ gốc 675.829.915 đồng; lãi trong hạn 4.165.206 đồng, lãi quá hạn 88.303.056 đồng, chậm trả 3.555.474 đồng và lãi suất trong hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

Án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Ông Phạm Ngọc M đại diện cho nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông M.

Ông Lưu Đình Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông Kh.

Về nội dung: Ngân hàng thương mại cổ phần PĐ yêu cầu ông Kh trả số tiền tính đến ngày 03.4.2024; tổng cộng 771.853.651 đồng; trong đó nợ gốc 675.829.915 đồng; lãi trong hạn 4.165.206 đồng, lãi quá hạn 88.303.056 đồng, chậm trả 3.555.474 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0122/2021/HĐTD-OCB-CN

Xét thấy: Ngân hàng thương mại cổ phần PĐ có đủ chứng cứ chứng minh ngày 11/6/2021, Ngân hàng TMCP PĐ – Chi nhánh Tây Ninh và ông Lưu Huỳnh Kh ký hợp đồng tín dụng số 0122/2021/HĐTD-OCB-CN cho ông Kh vay số tiền 890.000.000 đồng (tám trăm chín mươi triệu đồng). Nội dung hợp đồng thể hiện rõ thỏa thuận của hai bên về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, mục đích sử dụng tiền vay, biện pháp bảo đảm trả nợ. Quá trình vay tính đến ngày 03.7.2023 ông Kh đã trả được số tiền 382.425.010 đồng, trong đó tiền gốc 214.170.085 đồng, tiền lãi 168.254.925 đồng thì ngưng đến nay không trả nữa. Như vậy ông Kh vi phạm nghĩa vụ đối với Ngân hàng.

Đối với việc Ngân hàng yêu cầu tính lãi suất theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết lãi suất 8,2%/năm cố định trong 12 tháng đầu, từ tháng 13 trở đi lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 6 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn thể hiện cụ thể rõ ràng trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu tính lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông là có cơ sở chấp nhận; bởi lẽ, khi vay tiền ông Kh có ký hợp đồng tín dụng, có thỏa thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, chậm trả. Do đó Ngân hàng thương mại cổ phần PĐ yêu cầu ông Kh trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 03.4.2024 tổng cộng 771.853.651 đồng; trong đó nợ gốc 675.829.915 đồng; lãi trong hạn 4.165.206 đồng, lãi quá hạn 88.303.056 đồng, chậm trả 3.555.474 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0122/2021/HĐTD-OCB-CN là có căn cứ.

Đối với tài sản thế chấp 01 giấy xe ô tô con biển số 70A31445 Ngân hàng không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tpTây Ninh chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị này phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ phần PĐ

2. Buộc ông Lưu Huỳnh Kh có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần PĐ số tiền tính đến ngày 03.4.2024 tổng cộng 771.853.651 đồng (bảy trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm năm mươi mốt đồng); trong đó nợ gốc 675.829.915 đồng; lãi trong hạn 4.165.206 đồng, lãi quá hạn 88.303.056 đồng, chậm trả 3.555.474 đồng.

Kể từ ngày 04.03.2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0122/2021/HĐTD-OCB-CN. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Kh phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3.Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lưu Huỳnh Kh phải chịu là 34.874.164 đồng (ba mươi bốn triệu tám trăm bảy mươi bốn nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng).

Ngân hàng Thương Mại cổ phần PĐ không phải chịu tiền án phí; hoàn trả lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 19.282.000 đồng (mười chín triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002040 ngày 10 tháng 11 năm 2023 của chi cục Thi hành án dân sự tp Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ