- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bạc Cầm T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bạc Cầm Tr phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH NHAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 43/2023/HSST Ngày 21 tháng 9 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thu
Ông Lường Văn Phúc
Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Toà án huyện Quỳnh Nhai.
Đại diện VKSND huyện Quỳnh Nhai tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2023/TLST - HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST
- HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo.
Họ và tên: Bạc Cầm Tr, tên gọi khác: Không; sinh ngày 03 tháng 9 năm 1989; Nơi ĐKHKTT: Bản G, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do: Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Bạc Cầm B, sinh năm 1957 và con bà Lò Thị Th, sinh năm 1958; Bị cáo có vợ Lò Thị H, sinh năm 1981 và có 04 con; Con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2019
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 6 năm 2023 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 09 tháng 6 năm 2023 Bạc Cầm Tr đi xe Buýt từ nhà tại bản G, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La về hướng trung tâm huyện Q tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến trung tâm xã M, Tr xuống xe đi bộ về hướng trung tâm huyện, khi đi đến khu vực bản C, xã M, Tr gặp một người đàn ông không biết tên và hỏi mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine với giá 500.000đ. Sau khi mua được ma túy, Tr vào bụi cây ven đường trích lấy một phần nhỏ ma túy sử dụng bằng hình thức đốt hít, phần ma túy còn lại Tr gói lại như cũ rồi cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, rồi đi bộ đón xe buýt quay về nhà. Khi đi đến khu vực bản C, xã M, huyện Q thì bị tổ công tác Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 gói giấy màu trắng, có chữ viết, bên ngoài được bọc bằng nilon màu hồng.
Ngày 09/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Bạc Cầm Tr, kết quả Bạc Cầm Tr dương tính với chất ma túy.
Ngày 10/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q phối hợp với phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định vật chứng đối với chất cục bột màu trắng thu giữ của Bạc Cầm Tr. Kết quả, tổng khối lượng chất cục bột màu trắng đã thu giữ là 0,75gam, trích rút 0,08 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1, còn lại 0,67 gam làm vật chứng lưu kho ký hiệu B1.
Tại Kết luận giám định số: 1493/KL - KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,75gam, loại Heroine có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất ”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Bản cáo trạng số: 27/CT-VKS-QN ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy tố bị cáo Bạc Cầm Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Quỳnh Nhai phát biểu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bạc Cầm Tr về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
- Xử phạt bị cáo Bạc Cầm Tr từ 20 tháng đến 22 tháng tù;
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 09/6/2023)
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX tuyên tiêu hủy:
Một phong bì công văn của Công an huyện Q, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Bạc Cầm Tr - Tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) mảnh nilon màu hồng + 01 (một) mảnh giấy màu trắng có chữ viết + 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở + 0,67g (không phẩy sáu mươi bảy gam) chất cục bột màu trắng được đựng trong một túi nilon màu trắng hàn kín, ký hiệu B1”. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098309 của Công an tỉnh Sơn La, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia và chữ ký, họ tên của bị can Bạc Cầm Tr cùng hai hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q.
+ Về án phí: Đề nghị HĐXX căn khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án - Buộc bị cáo Bạc Cầm Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng);
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Điều tra viên Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Bạc Cầm Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, số ma túy bị giữ là Heroine, có tổng khối lượng 0,75 gam, nguồn gốc do bị cáo mua của người đàn ông không quen biết, để sử dụng cho bản thân. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra như : Biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác lập hồi 19 giờ 40 phút, ngày 09/6/2023; biên bản thu giữ vật chứng, biên bản bóc mở niêm phong xác định khối lượng, bản kết luận giám định số 1575 ngày 22/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận là chất ma túy, loại Heroine. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được trong hồ sơ.
Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Bạc Cầm Tr tàng trữ khối lượng 0,75 gam Heroine, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
....
........
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bạc Cầm Tr không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 249 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà. Bị cáo Bạc Cầm Tr đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có ông nội là Bạc Cầm P là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Do vậy bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định pháp luật, Hội đồng xét xử thấy cần thiết xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo biện pháp cải tạo, giáo dục riêng, phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản giá trị lớn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng vụ án:
Đối với một phong bì công văn của Công an huyện Q, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Bạc Cầm Tr - Tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) mảnh nilon màu hồng + 01 (một) mảnh giấy màu trắng có chữ viết + 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở + 0,67g (không phẩy sáu mươi bảy gam) chất cục bột màu trắng được đựng trong một túi nilon màu trắng hàn kín, ký hiệu B1”. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098309 của Công an tỉnh Sơn La, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia và chữ ký, họ tên của bị can Bạc Cầm Tr cùng hai hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo đã khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, do đó không có căn cứ điều tra làm rõ, vì vậy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án - Buộc bị cáo Bạc Cầm Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng);
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Bạc Cầm Tr phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Bạc Cầm Tr 20 (Hai mươi) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 09/6/2023).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Bạc Cầm Tr
2. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:
Một phong bì công văn của Công an huyện Q, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Bạc Cầm Tr - Tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) mảnh nilon màu hồng + 01 (một) mảnh giấy màu trắng có chữ viết + 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở + 0,67g (không phẩy sáu mươi bảy gam) chất cục bột màu trắng được đựng trong một túi nilon màu trắng hàn kín, ký hiệu B1”. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098309 của Công an tỉnh Sơn La, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia và chữ ký, họ tên của bị can Bạc Cầm Tr cùng hai hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 39/2023 ngày 16/8/2023 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Sơn La)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án - Bị cáo Bạc Cầm Tr phải nộp phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đ(Hai trăm nghìn đồng)
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26 /7/2023.
| Nơi nhận: -TAND Tỉnh; -VKSND Tỉnh; -VKSND huyện (02); -Công an; -Trại giam ; -CCTHA Dân sự; -THA hình sự ; - Bị cáo; - Lưu án văn; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hường |