- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Nguyễn D - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Nguyên D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HSST Ngày: 07-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Ngọc Phi;
Ông Bùi Huy Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên toà: Ông Phan Xuân Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Hồ Nguyên D, sinh năm 1950 tại tỉnh Q; Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Thôn Q, xã K, huyện C, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Bảo vệ; con ông Hồ Văn D và bà Lê Thị N; Vợ bị cáo: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1956; Bị cáo có 06 người con, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/02/2023. Hiện bị cáo đang được tại ngoại tại trú tại thôn Q, xã K, huyện C, tỉnh B. (bị cáo có mặt).
- Bị hại: Chị Đậu Kiều A, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Ấp N, xã B, huyện C, tỉnh B (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Nguyên D làm việc cho Công ty dịch vụ A, được phân công làm nhiệm vụ bảo vệ tại quán cà phê Posh Boba có địa chỉ tại số 409, đường Hùng Vương, thị trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Công việc của D là trông xe, sắp xếp xe cho khách gọn gàng.
Vào khoảng 19 giờ 40 phút, ngày 28 tháng 01 năm 2023 chị Đậu Kiều A điều khiền xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 72 F1-911.46 chở Đinh Thị Thảo Vy đến quán cà phê Posh Boba uông nước. Khi đến quán thì chị A đậu xe trên vỉa hè của quán, sau đó ông D dắt xe của chị A vào vị trí để xe của quán thì phát hiện 01 điện thoại di đông hiệu Iphone 14 Pro để trong hộc phải phía trước xe nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. D quan sát xung quanh không thấy ai để ý nên đã lén lút lấy chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần của mình. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, chị A ra về phát hiện mất chiếc điện thoại nên đã trình báo Công an. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo thì Công an thị trấn Ngãi Giao đã mời Hồ Nguyên D lên làm việc. Tại đây, D đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình.
Tại Biên bản Kết luận định giá tài sản số 23/BB-HĐĐGTS ngày 23/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Đức kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu bạc (đã qua sử dụng) bị trộm cắp ngày 28/01/2023 có giá trị là 25.626.507 đồng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi sáu ngàn năm trăm lẻ bảy đồng).
Xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu bạc (đã qua sử dụng), Ngày 20/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Đức đã trả lại tài sản này cho chị A.
Trách nhiệm dân sự: Chị Đậu Kiều A không yêu cầu bị cáo Hồ Nguyên D phải bồi thường trách nhiệm dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKS-CĐ ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố bị cáo Hồ Nguyên D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức giữ nguyên quyết định truy tố Hồ Nguyên D về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Hồ Nguyên D từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do bị cáo là người cao tuổi, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Nguyên D đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Nguyên D thừa nhận: Vào khoảng 19 giờ 40 phút, ngày 28 tháng 01 năm 2023 tại quán cà phê Posh Boba ở khu phố Ngãi Giao, thị trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sau khi ông D dắt xe của chị A vào vị trí để xe của quán cà phê Posh Boba thì phát hiện 01 điện thoại di đông hiệu Iphone 14 Pro để trong hộc phải phía trước xe nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. D quan sát xung quanh không thấy ai để ý nên đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần của mình.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng, phù hợp với kết luận điều tra của Công an huyện Châu Đức, Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Biên bản Kết luận định giá tài sản số 23/BB-HĐĐGTS ngày 23/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Đức kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu bạc (đã qua sử dụng) bị trộm cắp ngày 28/01/2023 có giá trị là 25.626.507đ (Hai mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi sáu ngàn năm trăm lẻ bảy đồng).
Vì vậy, Cáo trạng số: 51/CT-VKS, ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Hồ Nguyên D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Hồ Nguyên D là công dân đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình. Nhưng bị cáo coi thường pháp luật và các chuẩn mực đạo đức xã hội nên đã dấn thân vào con đường phạm tội. Chỉ vì tham lam tư lợi, nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi trộm cắp tài sản của của bị cáo đối với bị hại được bị cáo thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, với động cơ, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác để làm tài sản riêng của cá nhân bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại mà còn gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải có bản án nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, giáo dục, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Căn cứ quyết định hình phạt: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự khác đối với bị cáo để quyết định cho Hồ Nguyên D một mức hình phạt phù hợp.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người trên 70 tuổi, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phát cho bị cáo. Như vậy, cần áp dụng điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là người trên 70 tuổi, phạm tội ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, việc không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng không ảnh hưởng đến việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm tại địa phương, nên quyết định áp dụng loại hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người trên 70 tuổi, hết tuổi lao động, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu bạc (đã qua sử dụng), Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Đức đã trả lại tài sản này cho chủ sở hữu hợp pháp là chị A là phù hợp.
Trách nhiệm dân sự: Chị Đậu Kiều A đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Hồ Nguyên D có đơn xin miễn giám án phí, bị cáo là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn giảm án phí vì vậy miễn giảm án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hồ Nguyên D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Hồ Nguyên D 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 07/6/2023). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Hồ Nguyên D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ số tiền án phí 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) cho bị cáo Hồ Nguyên D.
3. Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/6/2023). Bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với những người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - PV06, PC10 Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - Công an huyện Châu Đức; - VKSND huyện Châu Đức; - Chi cục THADS huyện Châu Đức; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Văn Tiến |