vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 24/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 28/11/2022. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01(một) xe mô tô biển số 77M8-6010 có số máy: FMH-4G201912; nhãn hiệu KIMPO; Số khung: 200008069, màu sơn: xanh, đã qua sử dụng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày: 24-03-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ron và ông Nguyễn Đình Thọ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Thao - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thành Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/TLST-HS ngày 06/02/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HS ngày 20/02/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/HSST-QĐ ngày 02/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn M, sinh năm: 1999 tại TP. QN, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: KP1, phường G, TP. QN, tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm: 1975 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1973; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 30/5/2022 bị Công an TP. Quy Nhơn xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 13/7/2022 bị Công an TP. Quy Nhơn xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP. Quy Nhơn, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Nguyễn An T1, sinh năm: 1985 “Vắng mặt”

Trú tại: KP1, phường NB, TP. QN, Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hồ Chí T2, sinh năm: 1995 “vắng mặt”

Trú tại: KP 1, phường Q, TP. QN, Bình Định.

- Người làm chứng:

Anh Phan Hoàng N, sinh năm: 1995 “vắng mặt”

Trú tại: KV8, phường N, TP. QN, Bình Định.

Anh Lê Văn L, sinh năm: 1984 “vắng mặt”

Trú tại: 284 H, TP. QN, Bình Định.

Chị Lê Thị H, sinh năm: 1978 “vắng mặt”

Trú tại: KV2B, phường Q, TP. QN, Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11/8/2022, Nguyễn Văn M gặp Hồ Chí T2 rồi rủ nhau đi uống cà phê và chơi game tại khu vực ngã 3 đường H - N, Tp. QN. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi chơi game xong, M rủ T2 đi dạo tìm kiếm tài sản để trộm cắp, T2 đồng ý. Hồ Chí T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu KIMPO màu xanh có gắn biển kiểm soát 77M8-6010 chở M đi dạo tại các tuyến đường thuộc phường N, Tp. QN tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đến khu vực bãi đất trống có tường rào bao quanh của anh Nguyễn An T1 tại KP1, phường N, Tp. QN thấy có nhiều ống sắt để không có ai trông coi, T2 dừng xe lại, đứng ngoài cảnh giới cho M leo qua tường rào vào trong lén lút chiếm đoạt 03 ống sắt phi 90, dày 02mm, dài lần lượt 3m60, 3m40, 3m20 vác ra chỗ T2, sau đó T2 điều khiển xe mô tô BKS 77M8-6010 chở M ngồi sau vác 03 ống sắt đi tìm nơi tiêu thụ. Khi cả hai đi đến đoạn đường V – H, phường N, Tp. QN thì bị anh T1 cùng anh Phan Hoàng N (sinh năm: 1995, trú tại: Tổ 68, khu phố 8, phường Nhơn Bình, Tp. Quy Nhơn) phát hiện tri hô nên T2 và M bỏ lại xe mô tô BKS 77M8-6010 cùng 03 ống sắt vừa trộm cắp được rồi tẩu thoát. Sau khi sự việc xảy ra, anh Nguyễn An T1 trình báo Công an phường N.

Ngày 12/10/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Quy Nhơn kết luận:

- 01 ống sắt phi 90, dày 02mm, dài 3,6m, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại 65%, khảo sát tại thời điểm 181.440 đồng.

- 01 ống sắt phi 90, dày 02mm, dài 3,4m, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại 65%, khảo sát tại thời điểm 171.360 đồng

- 01 ống sắt phi 90, dày 02mm, dài 3,2m, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại 65%, khảo sát tại thời điểm 161.280 đồng

Tổng giá trị tài sản là 514.080 đồng.

Ngày 05/01/2023, cơ quan CSĐT Công an Tp. Quy Nhơn đã trả 03 ống sắt cho chủ sở hữu là anh Nguyễn An T1 gồm: 01 ống sắt phi 90, dày 02mm, dài 3,6m, đã qua sử dụng; 01 ống sắt phi 90, dày 02mm, dài 3,4m, đã qua sử dụng; 01 ống sắt phi 90, dày 02mm, dài 3,2m, đã qua sử dụng. Anh Nguyễn An T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSQN ngày 03/02/2023 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Văn M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu KIMPO màu xanh, biển kiểm soát 77M8-6010.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Nguyễn Văn M thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn M là người có đầy đủ sức khỏe, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều phải được ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh nhưng với ý thức xem thường pháp luật, tham lam, muốn có tiền tiêu xài nhưng chây lười lao động nên vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11/8/2022 bị cáo Nguyễn Văn M cùng Hồ Chí T2 đã lén lút chiếm đoạt 03 ống sắt phi 90, dày 02mm, dài lần lượt là 3m60, 3m40, 3m20 của bị hại Nguyễn An T1. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Quy Nhơn kết luận là 514.080 đồng. Bị cáo có 02 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” mà còn vi phạm nên Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt bị cáo có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

4.1. Bị cáo có nhân thân xấu.

4.2. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo một mức án có lý có tình để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn An T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Anh Hồ Chí T2 đã sử dụng xe mô tô nhãn hiệu KIMPO màu xanh có gắn biển số 77M8-6010 chở bị cáo trộm cắp tài sản. Theo kết quả xác minh thì xe mô tô được đăng ký biển số 77M8-6010 có số máy, số khung khác với số máy, số khung được khắc trên phần khung sườn, lốc máy của xe mô tô nói trên, nên xe mô tô nói trên là xe không hợp pháp, hiện còn giá trị kinh tế nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về các vấn đề khác: Anh Hồ Chí T2 có hành vi cùng bị cáo trộm cắp tài sản của anh Nguyễn An T1 nhưng trị giá tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, anh T2 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa bị kết án về một trong các tội chiếm đoạt tài sản nên không phạm tội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật hình sự,

Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 28/11/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01(một) xe mô tô biển số 77M8-6010 có số máy: FMH-4G201912; nhãn hiệu KIMPO; Số khung: 200008069, màu sơn: xanh, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn)

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ