vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 07/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chấu Minh C phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và tội "Cướp tài sản”.

* Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Truy thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 20.000.000 đồng (Hai triệu đồng) của bị cáo Chấu Minh C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chấu Minh C - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chấu Minh C phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và tội "Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày 07 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quyết Thắng;

Thẩm phán: Bà Trần Thị Khánh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Chung, bà Đinh Thị Kim Thu và ông Nguyễn Hữu Cương.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 07/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chấu Minh C (Tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam.

Sinh ngày 25/8/1993 tại huyện K, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn S, xã V, huyện K, tỉnh Lào Cai.

Dân tộc: Dao. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không.

Văn hóa: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Chấu Khái T và bà Tráng Thị H. Bị cáo chưa có vợ con.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. (Có mặt)

- Bị hại: Anh Lý A C1. Địa chỉ: Bản H, xã T2, huyện N, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)

- Những người làm chứng:

+ Cư Chẩn P. Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Lào Cai;

+ Lỳ A T3. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Phú Sơn 4;

+ Sùng Seo L1. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Tân Lập;

+ Vương Văn S1. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Phú Sơn 4;

+ Lý Văn L2. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Phú Sơn 4;

+ Sùng Seo P1. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Tân Lập;

+ Thào Seo D1. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Tân Lập;

(Những người làm chứng đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 8/2020, Cư Chẩn P nhận được điện thoại từ số điện thoại 0988047694, người gọi tự giới thiệu tên là Sì nhà ở huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên thuê P đòi số tiền khoảng 02 tỷ đồng mà Lý A C1 (sinh năm 1995, trú tại bản H, xã T, huyện N, tỉnh Điện Biên) đang nợ. Sì hứa trả cho P 50.000.000đ tiền công, P đồng ý. Sau đó, Sì gửi cho P ảnh và số điện thoại của C1 để P liên lạc với C1 và dặn khi nào đòi được tiền của C1 thì Sì sẽ ra thành phố Lào Cai gặp P để lấy tiền.

Đầu tháng 9/2020, P đến nhà Sùng Seo L1 tại thôn H1, xã P, huyện K thì gặp anh trai L1 là Sùng Seo P1 (sinh năm 1994, trú cùng thôn với L1) và Thào Seo D1 (sinh năm 2001, trú tại thôn Lao Chải, thị trấn K, huyện K) đang ở đó nên P rủ L1, P1, D1 cùng tham gia đi đòi nợ C1, P nói khi nào có thông tin về C1 thì tất cả cùng đi đòi tiền và hứa trả cho mỗi người khoảng hơn 10.000.000đ, cả ba đồng ý. Ngày 20/9/2020, C1 từ nhà S1 thành phố Lào Cai chơi, khoảng 02 giờ ngày 21/9/2020 khi tới thành phố Lào Cai, C1 thuê phòng nghỉ số 101 của nhà nghỉ Sửa Nghiêm tại số nhà 003, đường Phan Đình Phùng, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai để ngủ. Sáng ngày 21/9/2020, C1 gọi điện cho chị Trần Thị Thu H3 (sinh năm 1982, trú tại Tổ 02, phường C4, thành phố Lào Cai) đến phòng 101 để đổi 7.000 CNY S1 tiền Việt Nam đồng, được 23.870.000đ. Khoảng 08 giờ ngày 21/9/2020, P nhận được điện thoại của Sì thông báo hiện C1 đang ở trong nhà nghỉ Sửa Nghiêm và bảo P đi đòi tiền C1. Như đã bàn bạc từ trước, P cùng L1, D1, P1 sử dụng xe ô tô (chưa xác định được nhãn hiệu, biển số và chủ sở hữu) do P1 điều khiển đi ra nhà nghỉ Sửa Nghiêm để đòi tiền C1. Tới nơi, P1 bảo P rủ thêm Lý A Thành để đi đòi nợ cùng, P gọi điện bảo Thành đi ra bến xe Phố Mới cũ để cùng P đi đòi tiền C1, Thành đồng ý. Sau đó, Thành rủ thêm Vương Văn S1, Lý Văn L2 (tên gọi khác: Nam) và Chấu Minh C (sinh năm 1993, trú tại thôn Tà San, xã Lùng Vai, huyện K) để cùng Thành đi đòi tiền C1. S1, L2, C đồng ý và Thành mượn xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI TUCSON, BKS 30F - 473.47 của Cư Thị Sai (sinh năm 1993, trú tại thôn Na Lốc 4, xã Bản Lầu, huyện K) để đi gặp P.

Tới bến xe Phố Mới, thấy P1, L1, D1 và P đang ngồi trên xe ô tô của P1, Thành lên xe của P1 hỏi đòi nợ bao nhiêu tiền thì P cho biết đòi nợ khoảng 02 tỷ đồng, hiện C1 đang ở trong nhà nghỉ Sửa Nghiêm. Thành nói sẽ lấy 40% tiền công trên tổng số tiền đòi được, P1 đồng ý còn P nói vào trong nhà nghỉ Sửa Nghiêm để gọi điện cho chủ nợ hỏi ý kiến. Thành quay lại xe ô tô của Sai nói cho S1, L2 và C biết đi đòi số tiền khoảng 02 tỷ đồng, người nợ tiền đang ở trong nhà nghỉ Sửa Nghiêm rồi Thành bảo S1 và L2 cùng Thành và P vào trong nhà nghỉ Sửa Nghiêm để đòi tiền C1 còn P1, L1, D1 và C ngồi ngoài đợi. Cả bốn người vào trong phòng 101 nhà nghỉ Sửa Nghiêm thì thấy C1 và Hương đang ở trong phòng. Thành yêu cầu C1 và Hương ngồi im, đồng thời hỏi P có phải người đang nợ tiền đây không? P lấy ảnh của C1 (do Sì gửi) ra đối chiếu và xác định C1 chính là người mà Sì thuê P đi đòi nợ còn L2 và S1 đứng cạnh C1 để giám sát. Sau đó, Thành và P yêu cầu C1 trả tiền đồng thời bảo C1 gọi điện cho chủ nợ để xác nhận lại hiện C1 đang nợ bao nhiêu tiền, C1 gọi điện cho Vàng A Minh (Minh) – sinh năm 1993, trú tại bản Co Lót 1, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên thì Minh nói do C1 nợ lâu nên Minh tính lãi và yêu cầu C1 phải trả cho Minh số tiền 500.000 CNY, C1 nói không có tiền, Minh nói C1 không có tiền nhân dân tệ thì phải trả cho Minh tiền Việt Nam đồng là 1.500.000.000đ, đồng thời nói cho C1 biết là Minh đã thuê người đi đòi tiền C1 nên yêu cầu C1 phải trả tiền cho những người Minh đã thuê. Trong lúc C1 đang nói chuyện qua điện thoại với Minh thì cũng qua cuộc điện thoại này P nói cho Minh biết khi đi đòi tiền C1, P phải gọi thêm người, những người P gọi thêm yêu cầu phải trả 40% tiền công trên tổng số tiền đòi được, Minh đồng ý. P tiếp tục yêu cầu C1 trả tiền nhưng C1 không trả và nói không có tiền nên Thành bảo cho C1 15 phút để suy nghĩ, còn L2 dùng tay phải đánh một phát vào phía sau gáy của Chúng với mục đích để C1 nhanh chóng quyết định việc trả tiền, đánh xong, L2 xuống tầng 1 và cùng C mang xe ô tô của Sai đi rửa. Sau khi bị đánh, C1 sợ P và đồng bọn tiếp tục đưa C1 đi để đánh, không cho C1 về nên đã đồng ý trả cho P và đồng bọn 1.500.000.000đ nhưng do không có đủ tiền nên C1 xin trả trước 20.000.000đ, số tiền còn lại C1 xin viết giấy nhận nợ hẹn đến ngày 30/12/2020 sẽ trả và sẽ phô tô chứng minh thư của C1 đưa P và đồng bọn cầm để làm tin. P gọi điện cho Minh xin ý kiến, Minh đã đồng ý cho C1 viết giấy nhận nợ.

Sau đó, để tiếp tục đòi nợ, Thành, P, S1 đưa C1 từ phòng nghỉ ra lên xe ô tô của P1. Thành bảo P1 lái xe cùng P, L1, D1, S1 đưa C1 đến nhà bạn của Thành là Nguyễn Duyên Tiến (sinh năm 1991, trú tại số nhà 279 đường Minh Khai, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai) để xin mẫu giấy vay tiền. Sau đó, P, Thành, S1, L1, D1 và P1 tiếp tục đưa C1 đi về hướng cầu Cốc Lếu thì gặp C và L2 đang lái xe ô tô của Sai đi ngược chiều nên hai xe ô tô dừng lại. Trên xe ô tô của P1, Thành và P yêu cầu C1 viết giấy vay tiền với nội dung: C1 có vay số tiền 1.500.000.000đ của Giàng A Dùng, hẹn đến ngày 30/12/2020 thì trả (do Sì đặt vấn đề thuê P đi đòi nợ C1, Sì có nói chủ nợ tên là Giàng A Dùng vì vậy P bảo C1 viết vay tiền của người tên là Giàng A Dùng, sau này P mới biết tên thật của Dùng là Vàng A Minh - tên gọi khác là Mình). Sau đó, P yêu cầu C1 đưa 20.000.000đ, P cầm tiền và đưa cho Thành 10.000.000đ tiền công, còn 10.000.000đ P đưa cho L1 để chi tiêu chung cho cả nhóm. Sau đó, Thành, P, S1, L2, C, L1, P1 và D1 đi hai xe ô tô đưa C1 đi ăn cơm trưa. Ăn cơm xong, P1 yêu cầu C1 gọi điện về cho gia đình mang tiền ra trả cho P1 và đồng bọn nhưng C1 nói không có tiền nên P1 cùng cả nhóm sử dụng xe ô tô đưa C1 đến cầu chui gần cửa khẩu Lào Cai thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai. Tại đây, P1 bảo với P và Thành đưa C1 lên huyện K, P và Thành đồng ý rồi tất cả tiếp tục sử dụng xe ô tô đưa C1 lên huyện K để tiếp tục đòi nợ. P1 lái xe bán tải, L1 ngồi ghế phụ, S1 và D1 ngồi hai bên cạnh C1 để trông C1 còn P, Thành, L2 và C đi xe TUCSON BKS 30F - 473.47. Tới bãi đất trống ở cạnh đường liên thôn thuộc thôn Thính Chéng, xã Thanh Bình, huyện K, Minh gọi điện cho P nói nếu ngày hôm sau C1 trả được 500.000.000đ thì C1 không phải trả số tiền còn lại nên P nói cho C1 biết và yêu cầu C1 trả tiền. C1 nói không có tiền, P1 lấy một con dao nhọn dài khoảng 30 cm ở trong cốp xe trước ghế phụ trên xe của P1 đi đến vị trí C1 đang ngồi ở hàng ghế sau trong xe của P1, P1 giơ dao về phía C1 đe dọa và yêu cầu C1 trả tiền, sau đó tất cả đưa C1 đến phòng 306, nhà nghỉ Hàm Rồng 1 thuộc tổ dân phố Hàm Rồng, thị trấn K, huyện K để trông giữ C1 ở đó.

S1 và D1 ở lại phòng 306 để trông C1, không cho C1 ra ngoài, còn P, Thành, P1, L1, L2 và C đi ăn cơm. Trong lúc ăn cơm, L2 gọi điện dặn S1 trông C1 cẩn thận, không cho C1 sử dụng điện thoại, nếu C1 bỏ trốn sẽ không lấy được tiền từ người nhà của C1. C1 sợ P và đồng bọn đánh, không cho về nên tối ngày 21/9/2020, C1 xin S1 cho C1 gọi điện về bảo gia đình C1 đi vay tiền hộ C1 để ngày hôm sau mang ra trả cho P và đồng bọn, S1 đồng ý và C1 đã gọi cho vợ là Vàng Thị Dủ (sinh năm 1997) và em trai C1 là Lý A Cu (sinh năm 1997), cả 2 cùng trú tại bản Tà Hàng, xã Mường Toong, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đi vay hộ C1 500.000.000đ để ngày hôm sau mang tiền ra Lào Cai giao cho P và đồng bọn. Dủ nhờ Lý A Dua (sinh năm 1992, trú tại bản Huổi Hẹt, xã Nậm Ké, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên) đi vay tiền hộ. Dua đã vay được 163.000.000đ cùng với số tiền Dua có là 99.000 CNY (theo thông báo tỷ giá mua bán ngoại tệ các ngày 21, 22/9/2020 của Ngân hàng Agribank chi nhánh Lào Cai II thì 01 đồng CNY đổi được 3.429 Việt Nam đồng, số tiền 99.000 CNY tương đương với 339.471.000 Việt Nam đồng) của Dua để đợi đến ngày 22/9/2020 mang tiền ra Lào Cai giao cho P và đồng bọn. Khoảng 01 giờ ngày 22/9/2022, P và L1 về phòng 306, tại đây L1 rút dây lưng đang đeo trên người ra định đánh C1 thì P và S1 can ngăn, lúc này L1 không dừng lại mà tiếp tục dùng ghế gỗ kê trong phòng 306 giơ lên đánh C1, P tiếp tục can ngăn làm cho ghế văng vào tường bắn trúng người C1. Sau đó, P và L1 S1 phòng 307 của nhà nghỉ Hàm Rồng 1 ngủ còn S1 và D1 tiếp tục trông giữ C1 tại phòng 306. Đến sáng ngày 22/9/2020, S1 nói với P và Thành là C1 đã gọi điện về nhà bảo người nhà hôm nay mang tiền S1 để trả. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Thành đến phòng 306 bảo S1 đưa cho Thành 10.000.000đ mà ngày hôm trước P đưa cho Thành và dặn S1 trông coi C1 cẩn thận, không được để C1 trốn rồi cùng S1 và L2 sử dụng xe ô tô của Sai ra thành phố Lào Cai trước để nhận tiền từ người nhà C1. Tới thành phố Lào Cai, Thành mang xe ô tô của Sai đi rửa và mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, BKS 24B2 - 607.87 của bạn Thành là Nguyễn Văn Đồng (sinh năm 1989, trú tại số nhà 279 đường Minh Khai, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai) để đi gặp người nhà C1. P, P1, D1 và C sử dụng xe ô tô của P1 chở C1 đi sau, còn L1 có việc bận nên không đi.

Khoảng 22 giờ ngày 22/9/2020, Dua cùng Lý A Sở (sinh năm 1977, trú tại bản Mường Nhé 1, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên) và Sùng A Sem (sinh năm 1977, trú tại bản Pề Ngài 2, xã Nậm Pì, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu) mang tiền ra tới thành phố Lào Cai thì P, Thành, S1 và L2 hẹn đến quán cà phê Vọng Cảnh Lầu thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai để giao tiền, còn P1, D1 và C giữ C1 ở khu vực xã Bản Phiệt, huyện Bảo Thắng. Sau khi Thành, S1, P và L2 lấy được tiền từ người nhà C1, P1, D1 và C chở C1 đến phường Lào Cai để cho C1 tự đi gặp người nhà, còn P1, D1, C, P, Thành, L2 và S1 đến nhà nghỉ Vĩnh Lộc thuộc lô K4, khu Công nghiệp Kim Thành, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai thuê phòng. Tại đây, Thành, S1, L2, C, P1, P và D1 đếm số tiền lấy được từ người nhà C1 gồm 163.000.000đ tiền Việt Nam đồng và 99.000 CNY (số tiền 99.000 CNY tương ứng 339.471.000đ) thấy đủ 500.000.000đ nên P chia cho Thành số tiền tương ứng 200.000.000đ tiền công gồm: 163.000.000đ và 11.000 CNY, còn P, P1 và D1 cầm 88.000 CNY về K. Sau đó, Thành chia cho L2 30.000.000đ tiền công, chia cho S1 và C mỗi người 20.000.000đ. Đến chiều ngày 23/9/2020, Thành đổi 11.000 CNY ra tiền Việt Nam đồng cho một người không biết tên, địa chỉ được 37.400.000đ (đối với tỷ giá 3.400đ/1 CNY), tổng số tiền công Thành được hưởng là 140.400.000đ, gồm: 10.000.000đ P chia ngày 21/9/2020 và 130.400.000đ được chia ngày 22/9/2020.

Sáng ngày 23/9/2020, Lý A C1 và Lý A Dua đến Công an tỉnh Lào Cai tố cáo P cùng đồng bọn cưỡng đoạt 520.000.000đ của C1. Do đó, Cơ CSĐT Công quan an tỉnh Lào Cai đã triệu tập Cư Chẩn P, Sùng Seo L1, Lý A Thành, Vương Văn S1 để điều tra làm rõ, thì P đã tự nguyện giao nộp 88.000 CNY chiếm đoạt được của C1; số tiền công Thành được hưởng, Thành đã tiêu sài hết 90.400.000đ còn 50.000.000đ, Thành tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra; tiền công S1 được hưởng, S1 đã tiêu sài hết 2.500.000đ còn 17.500.000đ S1 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả. Đối với Lý Văn L2 sau khi được chia 30.000.000đ tiền công, L2 đã sử dụng mua điện thoại di động, mua sim điện thoại và tiêu sài cá nhân hết 27.209.000đ, còn lại 2.791.000đ đến ngày 17/10/2020 L2 đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai đầu thú và tự nguyện giao nộp điện thoại di động, sim điện thoại và 2.791.000đ để khắc phục hậu quả. Đối với Sùng Seo P1, Chấu Minh C, Thào Seo D1 đã bỏ trốn, đến ngày 22/9/2022 Sùng Seo P1, Thào Seo D1 bị bắt theo quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai.

Ngày 24/02/2023, Tòa an nhân dân tỉnh Lào Cai đã đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuyên các bị cáo Cư Chẩn P, Lỳ A Thành, Lý Văn L2, Sùng Seo L1, Sùng Seo P1, Vương Văn S1, Thào Seo D1 phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 157, điểm a khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Đối với Chấu Minh C, do hết thời hạn điều tra không xác định được bị cáo đang ở đâu nên ngày 31/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị cáo khi nào bắt được xử lý sau. Đến ngày 19/4/2023, bị cáo Chấu Minh C bị bắt, quá trình điều tra C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đối với số tiền 20 triệu đồng được chia từ số tiền chiếm đoạt được của bị hại C1, C đã tiêu sài cá nhân hết.

Bản Kết luận giám định số 02/GĐTL ngày 28/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lao Cai xác định: Chữ ký, chữ viết mang tên Lý A C1 dưới mục Người vay tiền trên mẫu cần giám định ký hiệu A (Giấy vay tiền ngày 21/9/2020) với các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 (01 đơn trình báo, 02 bản tự khai có chữ ký, chữ viết của Lý A C1) là do cũng một người ký và viết ra.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKS-P2 Lào Cai, ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Chấu Minh C về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và "Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 157, điểm a khoản 4 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Chấu Minh C phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và "Cướp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chấu Minh C từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chấu Minh Cương từ 16 năm đến 18 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Chấu Minh C: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chấu Minh C từ 06 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chấu Minh Cương từ 16 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội:

Về hành vi bắt, giữ người trái pháp luật

Khi được người đàn ông tên Sì thuê đòi nợ và hứa trả 50 triệu đồng tiền công, Cư Chẩn P đã rủ rê các bị cáo Thành, S1, L1, L2, P1, D1, C tham gia đòi nợ cùng. Trong 02 ngày 21, 22/10/2020, các bị cáo đã bàn bạc và cùng nhau bắt, giữ anh Lý A C1 trong khoảng thời gian dài từ 9 giờ ngày 21/9/2020 đến khoảng 22 giờ ngày 22/9/2020 tại nhiều địa điểm khác nhau như: nhà nghỉ Sửa Nghiêm; cầu chui gần cửa khẩu Lào Cai (ở thành phố Lào Cai); thôn Thính Chéng, xã Thanh Bình; nhà nghỉ Hàm Rồng 1 (ở huyện K). Quá trình đưa C1 từ thành phố Lào Cai vào huyện K và ngược lại, các bị cáo S1; D1 và Chấu Minh C luôn thay phiên nhau ngồi bên cạnh C1 để trông giữ anh C1. Trong phòng 306 của nhà nghỉ Hàm Rồng 1, các bị cáo khống chế C1 ở trong phòng, không cho ra ngoài, khi sử dụng điện thoại phải xin phép, tránh anh C1 bỏ trốn.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Về hành vi cưỡng đoạt tài sản

Quá trình bắt, giữ bị hại Lý A C1, các bị cáo đã có hành vi đe dọa và trực tiếp dùng vũ lực để bắt anh C1 phải trả tiền, viết giấy vay số tiền và yêu cầu người nhà C1 mang tiền đến trả cho các bị cáo, các bị cáo đã dùng khóa số 8, dao nhọn, dây lưng, ghế, dùng tay để đánh và đe dọa anh C1. Mặc dù bị cáo C không trực tiếp dùng vũ lực, đe doạ anh C1, nhưng bị cáo đã tiếp nhận ý chí của các bị cáo khác để chiếm đoạt được tiền của anh C1. Khi bị các bị cáo bắt, giữ, uy hiếp, đe dọa và đánh, anh C1 đã sợ hãi và không thể chống cự được nên đã phải chấp nhận viết giấy vay nợ và liên hệ người nhà đi vay tiền hộ để mang ra thành phố Lào Cai giao nộp cho các bị cáo. Tổng số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt là 522.471.000 đồng (trong đó: 20.000.000 đồng do anh Lý A C1 đưa ngày 21/9/2020 và 502.471.000 đồng do người nhà của anh Lý A C1 đưa ngày 22/9/2020) .

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã cấu thành tội tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Cư Chẩn P, Lỳ A Thành, Vương Văn S1, Sùng Seo L1, Sùng Seo P1, Thào Seo D1 và Lý Văn L2 đã bị xét xử tại Bản án số 13/2023/HSST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai nên Hội đồng xét xử không đề cập trong vụ án này.

Từ những phân tích trên xét thấy, Cáo trạng số 33/CT-VKS-P2 Lào Cai, ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Chấu Minh C về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và tội "Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 157, điểm a khoản 4 Điều 168 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự:

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội

Bị cáo Chấu Minh C là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật. Nhưng do muốn có tiền để tiêu sài cá nhân một cách bất hợp pháp nên đã cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi bắt, giữ người trái pháp luật và chiếm đoạt tài sản với số tiền là 522.471.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền về tài sản và tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ; hành vi đó gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Cư Chẩn P là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác tham gia thực hiện hành vi phạm tội; trực tiếp thực hiện hành vi bắt giữ người và chiếm đoạt tài sản của bị hại. Vì vậy, bị cáo Cư Chẩn P phải là người chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Các bị cáo khác giữ vai trò là người thực hành tích cực. Bị cáo Chấu Minh C đồng phạm với vai trò là người giúp sức. Bị cáo C sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, gây khó khăn cho cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không tốt, nên cần xử phạt mức án thật nghiêm khắc để đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải xử phạt bị cáo C với mức án như đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai và người bào chữa đã đề nghị để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với đối bị cáo C.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Lý A C1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng:

Đối với số tiền 20.000.000 đồng do phạm tội mà có, C đã tiêu sài cá nhận hết nên cần truy thu của bị cáo số tiền trên để nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Chấu Minh C phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và tội "Cướp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chấu Minh C 06 (Sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 168; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chấu Minh C 16 (Mười sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Chấu Minh C phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2023.

* Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Truy thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 20.000.000 đồng (Hai triệu đồng) của bị cáo Chấu Minh C.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Chấu Minh C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ