vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 10/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Lò Văn Ng (tên gọi khác: không) phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau: * Tịch thu tiêu hủy các vật sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Ng - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Lò Văn Ng (tên gọi khác: không) phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày: 10-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hòa.

Thẩm phán: bà Bùi Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: bà Hà Thị Vũ

Ông Sùng A Xà

Bà Đỗ Thị Luyến

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Lan Hương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: bà Ngô Thị Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần Phân trại C10 - Trại Tạm giam Công an tỉnh Điện Biên, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:

Lò Văn Ng (tên gọi khác: không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979, tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: bản C, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn T, sinh năm: 1951 và bà Lò Thị B, sinh năm: 1955; vợ Lò Thị N sinh năm: 1985 và 01 con sinh năm 2005; Tiền án: 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Tiền sự: không; Nhân thân: năm 2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu kết án 16 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03/10/2022, tạm giam từ ngày 06/10/2022 cho đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Lê Thị X, Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Công lý - Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người chứng kiến: anh Vừ A L, sinh năm: 1993; nơi cư trú: bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: ông Lê Đình Hải Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/10/2022, bị cáo Lò Văn Ng đang ở nhà thì T là người quen biết từ trước, đi xe ôm đến nhà, T đặt vấn đề thuê bị cáo Ng đi nhận và vận chuyển ma túy cho T, xong việc sẽ trả công cho bị cáo Ng 10 triệu đồng, bị cáo Ng đồng ý. Khoảng 16 giờ ngày 03/10/2022, T đi xe ôm đến nhà bị cáo Ng và bảo: khoảng hơn 18 giờ cùng ngày, bị cáo Ng đi theo hướng lên phía cửa khẩu Quốc tế Tây Trang, trên đường đi nếu nhìn thấy 01 xe máy Wave màu trắng dựng ở cạnh đường thì bấm còi 3 lần sẽ có người đến giao ma túy cho, sau khi nhận được ma túy thì đem về nhà cất giấu, T sẽ đến lấy và trả tiền công cho bị cáo Ng. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo Ng điều khiển xe máy đi theo hướng đường lên cửa khẩu Quốc tế Tây Trang, khi đi qua khu vực bản N, xã P, huyện Đ được khoảng 02 km thì thấy 01 xe máy Wave màu trắng dựng ở cạnh đường, bị cáo Ng dừng xe và bấm còi 03 lần thì một người nam giới đi bộ từ phía chiếc xe máy ra, qua trao đổi người đàn ông này đưa cho bị cáo Ng 01 bọc túi ni lon màu đen nói bên trong có 02 bánh Heroine và 02 gói Methamphetamine. Bị cáo Ng nhận túi và kiểm tra qua cảm nhận bằng tay thấy đúng như lời nói của người giao, bị cáo cất giấu vào trong áo trước bụng rồi điều khiển xe máy quay về. Hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo Ng đi được khoảng 500m thì gặp tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Tây Trang phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu Quốc tế Tây Trang và Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên yêu cầu dừng xe kiểm tra, bị cáo Ng tăng ga bỏ chạy đến khu vực bản N, xã P, huyện Đ thì bị bắt, qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong áo trước bụng Nghiên đang mặc 02 bánh Heroine có tổng khối lượng: 701,4 gam và 02 gói Methamphetamine có tổng khối lượng: 34,1 gam. Tổng khối lượng hai chất ma túy 735,5 gam.

Tại bản Kết luận giám định số: 1325/KL-KTHS, ngày 12/10/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 02 (hai) mẫu chất các cục bột màu trắng ký hiệu T1, T2 trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn Ng gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. 02 (hai) mẫu chất các viên nén màu hồng ký hiệu H1, H2 trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn Ng gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn Ng gồm: 701,4 gam chất bột màu trắng; 34,1 gam các viên nén màu hồng.

Bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS-P1 ngày 22/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn Ng về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn Ng về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm như sau: tuyên bố bị cáo Lò Văn Ng phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn Ng tù Chung thân. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 250 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Về vật chứng của vụ án, đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy 695,3 gam Heroine và 33,16 gam Methamphetamine đã trừ mẫu vật gửi giám định đã được niêm phong là vật nhà nước cấm lưu hành và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 27014362 mang tên Lò Văn Ng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 27B1-748.07, nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE @ màu trắng-đen-bạc thu giữ của Lò Văn Ng. Trả lại cho Lò Văn Ng: 01 giấy phép lái xe số 110219001931 mang tên Lò Văn Ng và 01 chiếc điện thoại di động, loại bàn phím bấm, nhãn hiệu itel, vỏ màu đỏ, điện thoại cũ.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn Ng không có ý kiến tranh luận về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị HĐXX xem xét điều kiện sinh sống của bị cáo, do hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nên nghĩ quẩn mới phạm tội; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố ruột được tặng Huân Chương kháng chiến Hạng Nhì, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vật chứng của vụ án: đề nghị trả lại ½ giá trị xe máy cho gia đình bị cáo; trả lại 01 điện thoại cho gia đình bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người chứng kiến anh Vừ A L trình bày tại cơ quan điều tra: khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 03/10/2022 anh L được tổ công tác Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Tây Trang mời chứng kiến việc khám xét và bắt giữ đối với Lò Văn Ng tại bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Thu giữ 02 bánh chất bột màu trắng và 02 gói viên nén màu hồng trong túi nilon màu đen bên trong áo phía trước bụng của Lò Văn Ng. Lò Văn Ng khai nhận với tổ công tác, 02 bánh chất bột màu trắng bị thu giữ là Heroine và 02 túi viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp, Lò Văn Ng vừa nhận của một đối tượng không quen biết ở trên đường cách chỗ bị bắt khoảng 500m mang về nhà. Ma túy là của T bạn của Ng nhờ đi lấy và vận chuyển về nhà Ng cất giấu, sau đó T sẽ đến lấy và trả công cho Ng 10 triệu đồng. Việc bắt giữ Lò Văn Ng là khách quan, Ng khai báo là tự nguyện, không bị ép buộc, không bị đánh đập.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh cũng như về hình phạt. Trong phần tranh luận Kiểm sát viên và Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận đối đáp gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội:

Quá trình thẩm tra các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:

Nhằm mục đích nhận tiền công, nên khoảng 18 giờ ngày 03/10/2022, bị cáo Lò Văn Ng đã nhận 02 bánh Heroine có tổng khối lượng: 701,4 gam và 02 gói Methamphetamine có tổng khối lượng: 34,1 gam của một đối tượng không quen biết tại khu vực bản N, xã P, huyện Đ nhằm mục đích vận chuyển về nhà cất giấu để T (là bạn của bị cáo) đến lấy. Trên đường về đến khu vực bản N, xã P, huyện Đ thì bị bắt, qua kiểm tra, thu giữ toàn bộ số ma túy bị cáo cất giấu trong áo trước bụng, tổng khối lượng hai chất ma túy 735,5 gam. Lời khai của bị cáo Lò Văn Ng phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu (BL 39, 40); biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng (BL 41-42); kết luận giám định (BL 47); lời khai của người chứng kiến Vừ A L (BL 82) và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Lò Văn Ng đã nhận 701,4 gam Heroine và 34,1 gam Methamphetamine của một người không quen biết để vận chuyển cho một người tên T nhằm nhận tiền công 10 triệu đồng. Hành vi của bị cáo Lò Văn Ng gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 06/CT-VKS-P1 ngày 22/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình Nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà trực tiếp là hoạt động vận chuyển chất ma túy. Bị cáo biết việc Nhà nước cấm tất cả các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhưng nhằm tìm tiền công bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo sinh ra và lớn lên trong gia đình làm nông nghiệp, bản thân không được đi học. Bị cáo không có tiền sự; về tiền án: năm 2008 bị cáo Lò Văn Ng bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu kết án 16 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy đến ngày 05/12/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và ra trại về địa phương, tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích do đó phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có bố ruột được tặng Huân cương kháng chiến chống Mỹ Hạng Nhì; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt chính:

Từ các phân tích tại các đoạn [1], [2], [3], Hội đồng xét xử thấy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù không có thời hạn thì mới tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đề nghị hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, bởi lẽ khối lượng ma túy mà bị cáo thực hiện vận chuyển là trên 700 gam, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan cảnh sát điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, gia đình bị cáo không có tài sản có giá trị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 250 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau:

- 695,3 gam Heroine và 33,16 gam Methamphetamine đã trừ mẫu vật gửi giám định đã được niêm phong là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 27014362 mang tên Lò Văn Ng.

- Đối với 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 27B1-748.07, nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE α màu trắng-đen-bạc thu giữ của Lò Văn Ng quá trình tố tụng đã làm rõ thuộc sở hữu hợp pháp của một mình bị cáo Ng, bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước. Đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo về trả lại ½ giá trị xe máy cho gia đình bị cáo không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Trả lại cho Lò Văn Ng 01 giấy phép lái xe số 110219001931 mang tên Lò Văn Ng và 01 chiếc điện thoại di động, loại bàn phím bấm, nhãn hiệu itel, vỏ màu đỏ, điện thoại cũ do không liên quan đến vụ án.

Về án phí:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.

Các vấn đề khác của vụ án

- Đối tượng nam giới giao ma túy cho bị cáo ngày 03/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên không đủ thông tin để xác định được con người cụ thể, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

- Đối với đối tượng tên T là người thuê bị cáo vận chuyển ma túy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên không làm rõ được con người cụ thể nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế Tây Trang, cán bộ; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Lò Văn Ng (tên gọi khác: không) phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn Ng tù Chung thân.Thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2022.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:

* Tịch thu tiêu hủy các vật sau:

- 01 (một) hộp niêm phong vật chứng bằng hộp bìa catton hình hộp chữ nhật, được, được dán kín bằng lớp giấy trắng không có dòng kẻ. Một mặt của hộp niêm phong dán mảnh giấy in chữ: “Vật chứng vụ án: Lò Văn Ng, sinh năm: 1979, cư trú tại bản Cang, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Hành vi: Vận chuyển trái phép chất ma túy. Bị bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Tây Trang bắt quả tang ngày 03/10/2022, tại khu vực bản Na Hai, xã Pom Lót, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Vật chứng gồm: 02 bánh chất bột màu trắng nghi Heroine có tổng khối lượng = 701,4 gam, đã trích tổng = 6,1 gam gửi giám định chất ma túy, khối lượng còn lại = 695,3 gam; 02 gói chứa các viên nén màu hồng có ký hiệu WY nghi ma túy tổng hợp có tổng khối lượng =34,1 gam, đã trích tổng 02 mẫu có khối lượng =0,94 gam gửi giám định chất ma túy, khối lượng còn lại=33,16 gam. Trên 05 mặt còn lại của hộp niêm phong có chữ ký giáp lai và ghi rõ họ tên của Giàng A T, Lê Thanh H, Trần Sỹ Ng, Tòng Văn D, Lò Văn Ng và dấu niêm phong được dán kín bằng băng dính trắng để bảo vệ.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 27014362 mang tên Lò Văn Ng.

* Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 27B1-748.07, loại xe: 02 bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE α, màu sơn: trắng-đen-bạc; số máy JA39E0535649, số khung: RLHJA3901HY560502, năm sản xuất: 2018 thu giữ của Lò Văn Ng.

* Trả lại cho Lò Văn Ng:

- 01 giấy phép lái xe số 110219001931 mang tên Lò Văn Ng.

- 01 chiếc điện thoại di động, loại bàn phím bấm, nhãn hiệu itel, vỏ màu đỏ, điện thoại cũ, đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn Ng.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 22 tháng 12 năm 2022).

3. Về án phí: áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Lò Văn Ng phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Lò Văn Ng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/02/2023)./.

Cỡ chữ