- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: - Bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HS-ST Ngày: 27-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiềm Quốc Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Tùng
2. Bà Trần Ngọc Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phi Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bảo Trân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hữu V, sinh năm: 1992 tại Cần Thơ.
Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh A và bà: Bùi Kim H, vợ: Nguyễn Thị Trúc L (đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: 01 lần - Ngày 12/3/2020, bị Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 tháng; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: ngày 18/10/2022. (Có mặt).
2. Nguyễn Thanh H, sinh năm: 2000 tại Cần Thơ.
Nơi cư trú: khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; chỗ ở: Nhà trọ A, khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh T và bà: Nguyễn Ngọc T, vợ: Lê Thị Vân A; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: ngày 18/10/2022. (Có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Yến N, sinh năm: 2000; Nơi cư trú: hẻm 8, đường Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ; chỗ ở: đường L, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Trần Hoàng L, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
+ Lê Thị Vân A, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 17/10/2022, Nguyễn Thanh H điều khiển xe mô tô Sirius biển số 68G1-199.**chở Nguyễn Hữu V đi đến khu công nghiệp Trà Nóc thuộc quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ để xin việc làm. Sau khi xin việc làm không được, H tiếp tục chở V chạy đến khu dân cư 586 thuộc khu vực Thạnh Thới, phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Khi đến khu dân cư 586, H và V nhìn thấy chị Nguyễn Yến N đang điều khiển xe mô tô biển số 65B2-739.** vừa chạy qua xe của H và V có để điện thoại di động trong hộc đựng đồ bên phải xe mô tô mà chị điều khiển. H và V bàn bạc và thống nhất chiếm đoạt điện thoại của chị Nhi. H tăng ga đuổi theo, khi vừa áp sát phía trong bên phải xe của chị N thì V liền dùng tay trái giật lấy điện thoại di động của chị N rồi tăng ga bỏ chạy ra hướng đường Võ Nguyên Giáp. Chị N truy hô đuổi theo được một đoạn nhưng không đuổi kịp nên đến Công an phường Phú Thứ, quận Cái Răng trình báo vụ việc.
Sau khi giật được điện thoại của chị Nhi, H điều khiển xe chở V quay về phường Thới An, quận Ô Môn cùng kiểm tra tài sản giật được là điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ. H đưa điện thoại vừa giật được cho V giữ để hôm sau bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, H đi về nhà. Sau khi cầm giữ điện thoại, V kiểm tra thấy tài khoản Momo và nhập mật khẩu là ngày tháng năm sinh của chị N nên đăng nhập được vào tài khoản Momo của chị N. V chuyển số tiền 2.050.000 đồng từ ví Momo của chị N qua ví Momo cá nhân của V và sử dụng hết số tiền này cho mục đích cá nhân.
Đối với chị N, sau khi bị giật điện thoại di động thì sử dụng điện thoại khác để đăng nhập vào tài khoản Icloud của điện thoại và phát hiện tài khoản Momo bị rút mất số tiền 2.050.000 đồng. Chị N gửi tin nhắn vào máy điện thoại của mình đã bị H và V chiếm đoạt, giả vờ xin chuộc lại điện thoại với giá 10.000.000 đồng thì được V đồng ý và hẹn địa điểm chuộc điện thoại tại khu vực Hòa Thạnh, phường Thới Hòa, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Sau khi hẹn với V xong, chị N thông báo cho Công an phường Phú Thứ, quận Cái Răng biết sự việc. Đến khoảng 03 giờ ngày 18/10/2022, Công an phường Phú Thứ phối hợp với Đội Cảnh sát hình sự Công an quận Cái Răng và Công an phường Thới Hòa, quận Ô Môn đến địa điểm mà chị N thông báo thì bắt gặp Trần Hoàng L và Nguyễn Hữu V nên đưa về trụ sở làm việc cùng tang vật là chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ. Từ lời khai của V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng tiến hành đưa Nguyễn Thanh H về trụ sở làm việc.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Hữu V và Nguyễn Thanh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tang vật thu giữ được gồm: 01 xe mô tô Sirius biển số 68G1-199.**, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68G1-199.**, 01 điện thoại di động Iphone 6, 01 nón bảo hiểm lưỡi chai màu trắng đen trên nón có chữ adidas, 01 nón bảo hiểm dạng nón kết màu đen, 01 nón kết hình ông địa có thêu chữ True Religion and-Jeans, 01 quần dài loại quần Jean màu đen, 01 quần short vải kaki có sọc dọc đen trắng, 01 áo thun tay ngắn màu trắng trên ngực có in chữ DOMINATION và 01 áo khoác dài tay màu xám.
Tại Kết luận định giá tài sản số 69/TCKH-HĐĐG ngày 25/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cái Răng kết luận, điện thoại di động Iphone 11, loại 64GB màu đỏ có giá trị là 8.500.000 đồng.
Đối với Trần Hoàng L, do Linh không biết được việc V và H cướp giật điện thoại của chị Nguyễn Yến N nên không đủ cơ sở xử lý hình sự.
Đối với xe mô tô biển số 68G1-199.**xác định được chủ sở hữu là ông Mai Quốc N, ông N đã bán xe này lại cho bà Lê Thị Vân A là vợ của Nguyễn Thanh H với giá 6.000.000 đồng. Khi mua bán có làm giấy tay nhưng chưa đăng ký sang tên. Việc Nguyễn Thanh H sử dụng xe đi cướp giật tài sản thì bà Vân A không biết.
Đối với điện thoại di động Iphone 11, 64GB màu đỏ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Yến N.
Tại Bản cáo trạng số 25/CT-VKSCR ngày 28/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã truy tố Nguyễn Hữu V về tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 và khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Thanh H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Nguyễn Hữu V và Nguyễn Thanh H vẫn thừa nhận hành vi phạm tội như đã khai trong quá trình điều tra và nội dung cáo trạng truy tố. Các bị cáo chỉ xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Còn về trách nhiệm dân sự, bị cáo Nguyễn Hữu V thống nhất bồi thường cho bị hại Nguyễn Yến N 2.050.000 đồng là số tiền mà bị cáo đã lấy trộm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Vân A cho rằng xe mô tô Sirius biển số 68G1-199.**thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà. Xe này được bà mua của ông Mai Quốc N vào năm 2022 nhưng chưa đăng ký sang tên quyền sở hữu và được bà sử dụng để đi làm hàng ngày. Vào ngày 17/10/2022, bị cáo Nguyễn Thanh H sử dụng xe để đi cướp giật tài sản thì bà không biết. Do đó, bà Vân A xin được nhận lại xe mô tô biển số 68G1-199.**.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của từng bị cáo. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đề nghị:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu V từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản và từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung là từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm 03 tháng tù.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản.
Về trách nhiệm dân sự, ghi nhận bị cáo Nguyễn Hữu V có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Yến N 2.050.000 đồng. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hội đồng xét xử xét thấy, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện một cách nhất quán, đảm bảo tính khách quan, tính liên quan và hợp pháp, cơ quan tiến hành tố tụng cũng đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho những người tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa hôm nay, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với các chứng cứ và tài liệu thu thập được, đã chứng minh được rằng, vào chiều ngày 17/10/2022, bị cáo Nguyễn Hữu V và bị cáo Nguyễn Thanh H đã có hành vi điều khiển xe mô tô Sirius biển số 68G1-199.** áp sát giật lấy chiếc điện thoại di động Iphone 11, loại 64GB của bị hại Nguyễn Yến N để trong hộc đựng đồ bên phải xe mô tô mà chị đang điều khiển. Tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt là điện thoại di động Iphone 11, loại 64GB qua định giá có giá trị là 8.500.000 đồng. Các bị cáo dùng xe mô tô cùng thực hiện hành vi giật chiếc điện thoại di động Iphone 11 của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu V và bị cáo Nguyễn Thanh H đã cấu thành tội Cướp giật tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là dùng thủ đoạn nguy hiểm theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hữu V, sau khi chiếm đọat được điện thoại di động của bị hại Nguyễn Yến N mang về sử dụng, bị cáo biết được trong điện thoại của chị N có tài khoản Momo nên nhập mật khẩu và đăng nhập vào tài khoản Momo của chị N, bị cáo V chuyển số tiền 2.050.000 đồng từ ví Momo của chị N qua ví Momo cá nhân của bị cáo và tiêu xài cá nhân. Do đó, hành vi của bị cáo V còn cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ pháp luật.
Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đang ra sức xây dựng một xã hội văn minh, mọi người phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, xem pháp luật là thước đo chuẩn mực của đời sống xã hội nhưng các bị cáo không thực hiện theo tinh thần, chủ trương đó mà đi ngược lại, cướp giật, trộm cắp tài sản của người khác. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hết sức liều lĩnh, táo bạo, thể hiện bản chất xem thường pháp luật, tham lam, thích hưởng thụ nhưng lại lười biếng lao động.
Trong vụ án này, có 02 bị cáo cùng thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác. Đối với bị cáo V, chính bị cáo là người ra tay giật lấy chiếc điện thoại di động của bị hại. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại của bị hại và mang về sử dụng. Bị cáo còn thực hiện hành chiếm đoạt số tiền trong tài khoản Momo của bị hại. Nhân thân của bị cáo xấu, có 01 tiền sự chưa được xóa. Còn bị cáo H, chính bị cáo là người khởi xướng, rủ rê bị cáo V cùng thực việc cướp giật điện thoại. Bị cáo từng bị xử phạt tù về tội Cố ý gây thương tích, mặc dù không được xem có tiền án do khi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nhưng bị cáo không biết sửa đổi. Do đó, đối với các bị cáo cần phải có hình phạt nghiêm nhằm để răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến tình tiết thành khẩn khai báo của các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, mặc dù bị hại Nguyễn Yến N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có văn bản yêu cầu bị cáo Nguyễn Hữu V trả lại số tiền 2.050.000 đồng đã lấy trộm. Bị cáo V thống nhất bồi thường cho bị hại 2.050.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 11, chị N đã được nhận lại và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với vật chứng là xe mô tô Sirius biển số 68G1-199.** xác định được bà Lê Thị Vân A là vợ của bị cáo Nguyễn Thanh H mua lại của ông Mai Quốc N. Khi mua bán có làm hợp đồng bằng giấy viết tay nên xe này được xem thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Vân A. Xe được bà Vân A mua được từ nguồn tiền cá nhân. Việc bị cáo H sử dụng xe đi cướp giật tài sản vào ngày 17/10/2022 thì bà Vân Anh không biết. Xe mô tô Sirius biển số 68G1-199.** là phương tiện duy nhất của gia đình bà Vân A dùng để sử dụng cho việc đi lại. Do đó, cần trả lại xe và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68G1-199.**cho người sử dụng hợp pháp là bà Lê Thị Vân A.
Đối với điện thoại di động Iphone 6 của bị cáo Nguyễn Hữu V, được bị cáo dùng để rút tiền chiếm đoạt được của bị hại. Do đó, cần tịch thu điện thoại di động Iphone 6 của bị cáo V sung ngân sách Nhà nước.
Đối với số vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Riêng bị cáo V còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: - Bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 171, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu V 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung là 04 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 18/10/2022.
2. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 18/10/2022.
3. Căn cứ: Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Hữu V có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Yến N 2.050.000 đồng.
4. Căn cứ: Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bà Lê Thị Vân A xe mô tô Sirius biển số 68G1-199.**và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68G1-199.50.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6 của bị cáo Nguyễn Hữu V được thu giữ trong vụ án.
Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm lưỡi chai màu trắng đen trên nón có chữ adidas, 01 nón bảo hiểm dạng nón kết màu đen, 01 nón kết hình ông địa có thêu chữ True Religion and-Jeans, 01 quần dài loại quần Jean màu đen, 01 quần short vải kaki có sọc dọc đen trắng, 01 áo thun tay ngắn màu trắng trên ngực có in chữ DOMINATION và 01 áo khoác dài tay màu xám.
5. Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hữu V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ; - Viện KSND quận Cái răng; - Cơ quan CSĐT Công an quận Cái Răng; - Chi cục THADS quận Cái Răng; - Nhà tạm giữ Công an quận Cái Răng; - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thiềm Quốc Khanh |