vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c Khoản 2 Điều 255, điểm b Khoản 2 Điều 329, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 03 (ba) năm tù về tội Mua dâm người dưới 18 tuổi. Tổng hợp hình phạt cả 02 tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 10 (Mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2022. Xử phạt Ngu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T + đp - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c Khoản 2 Điều 255, điểm b Khoản 2 Điều 329, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày 27/3/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Như Ý;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Vĩ;

2. Ông Nguyễn Duy Tuyên;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tạ Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1997, (tên gọi khác: Không) tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn Th, xã Thanh X, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ng, sinh năm:1974 và bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm: 1976; vợ, con: Chưa.Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1997, (tên gọi khác: Không) tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn Ng, xã An Th, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đôn C, sinh năm:1965 và bà Đào Thị Th, sinh năm: 1966; vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn H, sinh năm 1996, (tên gọi khác: Không) tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Thanh X, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; vợ Lê Thị Thanh Th, sinh năm 1996; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2014 nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

4. Lê Quốc Thế H, sinh năm 1997, (tên gọi khác: Không) tại Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Tổ 6, Khu 2, phường Việt H, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quốc Ch, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Hải Ph, sinh năm 1960; vợ, con: Chưa.Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giam từ ngày 25/8/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

5. Nguyễn Xuân H, sinh năm 1997, (tên gọi khác: Không) tại Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Thôn Ng, xã An Th, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị M. sinh năm 1978; Vợ con chưa có.Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giam từ ngày 25/8/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Cháu Đoàn Bùi Phƣơng A, sinh ngày 25/12/2004. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Yêm Điềm, xã Cao Minh, TP Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Bùi Thị Tuyết Nh, sinh ngày 05/9/2007. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Trung, xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.

+ Cháu Nguyễn Thị Hồng V, sinh ngày 09/7/2007. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.

+ Cháu Tạ Thị Thu H, sinh ngày 16/12/2008. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của cháu Nhung là ông Bùi Văn Trọng, sinh năm 1970 (bố đẻ của cháu Nhung). Địa chỉ; Thôn Trung, xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Hà là ông Tạ Văn Hoan, sinh năm 1968 (Bố đẻ của cháu Hà). Địa chỉ: Thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Vi là ông Nguyễn Văn Tuyến, sinh năm 1976 (Bố đẻ của cháu Vi). Địa chỉ: Thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Anh là ông Đoàn Trung Hiếu, sinh năm 1982 (Bố đẻ của cháu Anh). Địa chỉ: Thôn Yêm Điềm, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Nhung, cháu Vi, cháu Hà là bà Lƣu Thị Ngọc Lan – Luật sư Văn phòng luật sư Hà Lan và cộng sự. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 05 giờ ngày 06/3/2022, tổ công tác Công an huyện Sóc Sơn kiểm tra Homestay Moon House (RAINBOW VILLA) tại thôn Lâm Trường, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội, phát hiện trên phòng ngủ tầng 2 có 04 đôi nam nữ đang sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Nguyễn Văn T (sinh năm 1997, trú tại thôn Thạch Lỗi, xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội); Nguyễn Trung Đ (sinh năm 1997, trú tại thôn Ngự Câu, xã An Thượng, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội); Lê Quốc Thế H (sinh năm 1997, trú tại Khu 2, phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh); Nguyễn Xuân H (sinh năm 1997, trú tại thôn Ngự Câu, xã An Thượng, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội); Đoàn Bùi Phương A (sinh ngày 25/12/2004, trú tại thôn Yên Điềm, xã Cao Minh, TP Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc); Bùi Thị Tuyết Nh (sinh ngày 05/9/2007, trú tại thôn Trung, xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội); Nguyễn Thị Hồng V (sinh ngày 09/7/2007, trú tại thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội); Tạ Thị Thu H (sinh ngày 16/12/2008, trú tại thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội).

Tang vật tạm giữ: 01 đĩa sứ, 01 thẻ cứng, 01 ống hút, 01 túi nilon kích thước khoảng 4x6(cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 điện thoại Iphone có số thuê bao 0366224321 của Nguyễn Trung Đ, 01 điện thoại Iphone 11 có số thuê bao 0362770234 của Nguyễn Văn T, 01 điện thoại Iphone X của Bùi Thị Tuyết Nh.

Quá trình điều tra xác định: Sáng ngày 05/3/2022, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trung Đ, Lê Quốc Thế H và Nguyễn Xuân H rủ nhau thuê Homestay để nghỉ cuối tuần. Tuấn là người đặt thuê Homestay Moon House (RAINBOW VILLA) tại thôn Lâm Trường, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T dùng số 0362770234 gọi đến số 0877515201 của 01 nữ giới (không biết nhân thân cụ thể) đặt mua 01 chỉ ma túy “ke” với giá là 2.850.000 đồng, người này hẹn địa điểm giao nhận ma túy tại đường vào sân Golf thuộc xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn. Sau khi thỏa thuận mua ma túy xong, T rủ Đ đi chợ mua đồ ăn. Sau khi mua được đồ ăn, T có gặp 01 người nam giới (không biết nhân thân cụ thể), người này đưa cho T 01 túi nilon đựng ma túy “ke”. Nhận được ma túy, T trả tiền cho người này rồi cùng Đ đi về Homestay. Đến 23 giờ cùng ngày, T, Đức, H, Hoa cùng đi lên phòng tầng 2. Tại đây, T dùng số thuê bao 0362770234 gọi đến số thuê bao 0339726526 của Nguyễn Văn H (sinh năm 1996, trú tại thôn Thạch Lỗi, xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội) thuê nhân viên nữ để phục vụ “bay xả”, tức sử dụng ma túy và quan hệ tình dục. H, T thỏa thuận giá “bay xả” là 3.500.000 đồng/01 nhân viên. Với thỏa thuận này, H sẽ trả cho 01 nhân viên nữ 2.000.000 đồng còn H được hưởng lợi 1.500.000 đồng/01 nhân viên. Sau đó, T bảo Nguyễn Trung Đ chuyển 11.000.000 đồng đến tài khoản của Nguyễn Văn H để H điều nhân viên nữ đến phục vụ, Đ đồng ý và chuyển tiền đến tài khoản của H.

Sau khi thỏa thuận xong với T, H điều Đoàn Bùi Phương A, Bùi Thị Tuyết Nh, Nguyễn Thị Hồng Vđến để phục vụ. Tại phòng nghỉ Homestay, khi Phương A, Nh, Vi lên phòng thì T bỏ túi ma túy “ke”, đĩa sứ, ống hút và thẻ cứng lên bàn để cho tất cả cùng sử dụng và nói cho Đ, H, H biết việc gọi nhân viên nữ đến để phục vụ “bay xả” (nghĩa là sử dụng ma túy xong thì quan hệ tình dục). Do nhu cầu cần thêm nhân viên nữ, T đã bảo Nh gọi cho H để điều thêm 01 nhân viên nữ đến phục vụ “bay xả”. Sau đó, H điều Tạ Thị Thu H đến Homestay để phục vụ và tất cả các đối tượng cùng nhau sử dụng ma túy. Quá trình sử dụng ma túy, T bay cặp với H; H bay cặp với Nh; H bay cặp với V; Đức bay cặp với Phương A. Sau khi sử dụng ma túy xong thì T, H, H, Nh, H, V lần lượt đi xuống phòng ngủ tại tầng 1 của Homestay để quan hệ tình dục với nhau. Riêng Đ và Phương A không quan hệ tình dục với nhau. Đến khoảng 05 giờ ngày 06/3/2022, thì Cơ quan Công an phát hiện, kiểm tra và bắt giữ.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H tạm giữ 01 màn máy tính, 01 case máy tính và H tự giao nộp 01 điện thoại Nokia có số thuê bao 0339726526 và 0399339192.

Tại Kết luận giám định số 1517/KLGĐ-PC09 ngày 13/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,282 gam; 01 ống hút, 01 thẻ cứng và 01 đĩa sứ đều có dính ma túy loại Ketamine.

Tại bản cáo trạng số 238/CT-VKS ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và Tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 329 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và Tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Trung Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Quốc Thế H và Nguyễn Xuân H về tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 329 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đều nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Tuyết Nh vắng mặt tại phiên tòa có lời khai: Khoảng 23 giờ ngày 05/3/2023, chị cùng với Phương A, V đang ở Vườn Xoài tại thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội cùng với Nguyễn Văn H thì có người gọi điện thoại cho H nói chuyện sau đó H hỏi ai đi được thì chị và Phương A cùng với V đồng ý đi. H nói các chị đi để sử dụng ma túy cùng với khách và H trả mỗi người 2.000.000đ. Đến khoảng 00 giờ ngày 06/3/2022 thì H bắt taxi cho rồi đi theo vị trí mà khách gửi cho Vi đó là 1 căn homestay. Khi chị đến homestay thì chị bay cặp cùng với 1 khách tên H. Khi đang chơi ma túy khoảng 20 phút thì chị thấy có 01 khách chuyển khoản 10.500.000đ cho H. Sau khi chuyển tiền xong thì T yêu cầu gọi thêm 1 nhân viên nữa để bay cùng với cả nhóm. Lúc này chị gọi cho H gọi thêm 01 người tên là H và sử dụng ma túy cùng. Mọi người sử dụng ma túy đến khoảng 05 giờ sáng hôm sau thì cơ quan công an vào kiểm tra và bắt quả tang. Chị là nhân viên của H công việc của chị là nhân viên phục vụ quán hát và đi bay với khách sau quan hệ tình dục với khách giá cả sẽ được H thỏa thuận với khách rồi trả cho chị. Khi bị công an đến kiểm tra và bắt giữ chị có bị thu giữ 01 điện thoại di động.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Tạ Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa có lời khai: Chị làm nhân viên cho H ở Thạch Lỗi, xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. H thuê trọ cho chị ở thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến. Chị làm cho H được 02 tuần, công việc là làm nhân viên đi bay lắc cùng khách. Tối ngày 05/3/2023, chị ở phòng trọ ngủ cho đến khoảng 01 giờ sáng ngày 06/3/2023 thì H bảo chị có lên làm cùng các chị em đi bay và xả với khách không chị đồng ý. H bảo đi về Htrả 2.000.000đ. Sau đó chị nhận địa điểm mà Nh gọi điện và chỉ đường. Chị bắt taxi đi lên khu nhà nghỉ dưỡng ở Lâm Trường

- Minh Phú và Nh ra đón chị vào để tiếp khách. Tại đây chị thấy 04 nam giới và 03 nữ nhân viên, chị thấy có ma túy dạng ke để ở sàn nhà và nhân viên tự ke, tự chơi cùng với khách. Chị ngồi cùng một khách tên T. Sau khi sử dụng ma túy tại tầng 2 nhà nghỉ dưỡng ở Lâm trường chị mệt nên nằm cạnh T chưa thực hiện hành vi quan hệ tình dục thì bị cơ quan công an đến kiểm tra bắt quả tang. Mục đích H bảo chị đi tiếp khách là làm bay tức là sử dụng ma túy và quan hệ tình dục với khách nhưng chị chưa kịp quan hệ tình dục thì bị phát hiện.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hồng V vắng mặt tại phiên tòa có lời khai: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 05/3/2023, chị cùng với Phương A và Nh đang ở Vườn Xoài tại thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội cùng với Nguyễn Văn H thì có người gọi điện thoại cho Huy nói chuyện sau đó H hỏi ai đi được thì chị và Phương A cùng với Nh đồng ý đi. H nói các chị đi sử dụng ma túy cùng với khách và H trả mỗi người 2.000.000đ. Đến khoảng 00 giờ ngày 06/3/2022 thì H bắt taxi cho rồi đi theo vị trí mà khách gửi tới đó là 1 căn homestay. Khi chị đến homestay thì chị bay cặp cùng với 1 khách tên H. Một lúc sau chị thấy có thêm 01 người tên là H đến và sử dụng ma túy cùng. Mọi người sử dụng ma túy đến khoảng 05 giờ sáng thì cơ quan công an vào kiểm tra và bắt quả tang. Chị là nhân viên của H công việc của chị là nhân viên phục vụ quán hát và đi bay với khách (sử dụng ma túy) sau quan hệ tình dục với khách giá cả sẽ được H thỏa thuận với khách rồi trả cho chị.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đoàn Bùi Phương A vắng mặt tại phiên tòa có lời khai: Khoảng 01 giờ ngày 06/3/2022, khi chị đang ở phòng trọ cùng với V và Nh thì H bảo chị cùng với 02 người là V và Nh đi phục vụ khách và gọi taxi đi đến địa điểm khách đã gửi định vị trước đó. Đến nơi có 01 nam giới ra đón lên tầng 2. Tại đây chị thấy có 04 nam giới và một lúc sau thấy có H đến. Sau đó các chị ăn ngủ với khách đến khoảng 05 giờ thì bị cơ quan công an đến kiểm tra và đưa về trụ sở công an. Bản thân chị không sử dụng ma túy. H là quản lý bảo chị cùng với V và Nh đến để bay xả tức là sử dụng ma túy và quan hệ tình dục với khách. Chị bay xả cặp cùng với Đ. Tuy nhiên sau khi sử dụng ma túy xong chị không quan hệ tình dục cùng với Đ.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm b Khoản 2 Điều 329, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Xử phạt Nguyễn Văn T mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và từ 03 năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù về tội Mua dâm người dưới 18 tuổi. Tổng hợp hình phạt cả 02 tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 10 (Mười) năm 06 (sáu) tháng tù đến 11 (Mười một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 06/3/2022.

Áp dụng Điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm a Khoản 3 Điều 328, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Xử phạt Nguyễn Văn H mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Môi giới mại dâm. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 14 (mười bốn) năm đến 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 06/3/2022.

Áp dụng Điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Xử phạt Nguyễn Trung Đ mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 06/3/2022.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 329, điểm s khoản 1 Điều 51 (thêm Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Xuân H), Điều 38, Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Xử phạt Lê Quốc Thế H mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (Bốn) năm tù về tội Mua dâm người dưới 18 tuổi. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 25/8/2022.

Xử phạt Nguyễn Xuân H mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội Mua dâm người dưới 18 tuổi. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 25/8/2022.

Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ, 01 thẻ cứng, 01 ống hút, 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy tạm giữ của Nguyễn Văn T. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần lót thu giữ của Tạ Thị Thu H, 01 chiếc quần lót thu giữ của Bùi Thị Tuyết Nh. Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động tạm giữ của T, 01 điện thoại của Nguyễn Văn H, 01 điện thoại của Bùi Thị Tuyết Nh, 01 điện thoại thu giữ của Nguyễn Trung Đ. Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H 01 màn hình máy vi tính, 01 case máy tính. Truy thu của Nguyễn Văn H số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo, các đương sự không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 17 giờ ngày 05/3/2022, Nguyễn Văn T đã gọi điện cho một người nữ giới đặt vấn đề mua ma túy. Sau đó T và Nguyễn Trung Đ đã đến địa điểm giao nhận ma túy để nhận ma túy. Sau khi nhận được ma túy, T và Đ về Homestay Moon House (RAINBOW VILLA) tại thôn Lâm Trường, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. Cả T, Đ và Lê Quốc Thế H, Nguyễn Xuân H cùng lên phòng tầng 2 của Homestay. T gọi điện cho Nguyễn Văn H đặt vấn đề thuê nhân viên nữ đến để “bay sập” tức là vừa sử dụng ma túy cùng, vừa quan hệ tình dục. H đồng ý và điều 03 nhân viên nữ đến gồm Đoàn Bùi Phương A, Bùi Thị Tuyết Nh, Nguyễn Thị Hồng V đến để phục vụ và sử dụng ma túy cùng. Khi Nh, Phương A và V đến Homestay thì T bảo Đ chuyển khoản trước cho H 11.000.000đồng là tiền thuê nhân viên phục vụ. T bỏ túi ma túy “ke”, đĩa sứ, ống hút và thẻ cứng lên bàn để mọi người sử dụng. Sau đó do nhu cầu cần thêm nhân viên nữ, T yêu cầu Nh gọi điện cho H điều thêm 01 nhân viên nữ đến để “bay sập” cùng. H đã điều Tạ Thị Thu H đến Homestay để cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 05 giờ ngày 06/3/2022 thì Cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của Nguyễn Văn T và Nguyễn Trung Đ tổ chức cho Lê Quốc Thế H, Nguyễn Xuân H, Bùi Thị Tuyết Nh, Nguyễn Thị Hồng V, Tạ Thị Thu H, Đoàn Bùi Phương A sử dụng trái phép chất ma túy đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do số người sử dụng trái phép chất ma túy là 8 người và trong đó Bùi Thị Tuyết Nh, Nguyễn Thị Hồng V, Tạ Thị Thu H, Đoàn Bùi Phương A đã đủ 13 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên hành vi của Tuấn và Đức bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hai tình tiết định khung là “đối với 02 người trở lên” và “ đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Nguyễn Văn Huy trực tiếp nhận số tiền 11.000.000đồng từ Đ để H điều 04 nhân viên nữ đến sử dụng ma túy và phục vụ cho nhóm của T và Đ do đó hành vi của H là đồng phạm giúp sức với T và Đ về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, khi T gọi cho H thuê nhân viên nữ để phục vụ “bay xả” tức sử dụng ma túy và quan hệ tình dục. H trực tiếp là người điều nhân viên và thỏa thuận giá với T để hưởng lợi 1.500.000đ/1 nhân viên. Do vậy hành vi của H còn cấu thành tội Môi giới mại dâm. Do Bùi Thị Tuyết Nhung, Nguyễn Thị Hồng V, Tạ Thị Thu H, Đoàn Bùi Phương A chưa đủ 18 tuổi nên hành vi của Nguyễn Văn H cấu thành tội Môi giới mại dâm quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 328 Bộ luật Hình sự.

Quá trình sử dụng ma túy, T bay cặp với H; H bay cặp với Nh; H bay cặp với V; Đ bay cặp với Phương A. Sau khi sử dụng ma túy xong thì T, H, H, Nh; H, V lần lượt đi xuống phòng ngủ tại tầng 1 của Homestay để quan hệ tình dục với nhau. Do vậy hành vi của T, H và H cấu thành tội Mua dâm người dưới 18 tuổi quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 329 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố Nguyễn Văn T, Lê Quốc Thế H, Nguyễn Xuân H về tội Mua dâm người dưới 18 tuổi. Truy tố Nguyễn Văn H về tội Môi giới mại dâm là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Tuấn: Do Tuấn khai không biết nhân thân cụ thể của đối tượng này nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn không có cơ sở để điều tra làm rõ là phù hợp.

Đối với Nguyễn Trung Đ: Khi được Tuấn bảo chuyển 11.000.000 đồng cho H thì T chỉ nói để trả cho việc gọi nhân viên nữ đến phục vụ “bay” (nghĩa là cùng sử dụng ma túy). Đ chỉ biết mục đích gọi nhân viên nữ đến để phục vụ nhu cầu “xả” (nghĩa là quan hệ tình dục) khi số nhân viên nữ đến và được T thông báo trước mặt Đ, H, H. Bản thân Đ có bay cặp cùng với Phương A nhưng Đ không quan hệ tình dục với Phương A nên có thể thấy Đ không có mục đích quan hệ tình dục. Ngoài ra, khi H, H, T thực hiện hành vi giao cấu (mua dâm) với H, Nh, V thì Đ không biết, không chứng kiến. Ngoài ra việc gọi nhân viên đến phục vụ là do T thực hiện, không có sự bàn bạc, trao đổi với Đ, Hùng, H. Số tiền Đ chuyển khoản cho H là tiền T vay nên xác định không có việc các bị cáo thống nhất chung tiền để thực hiện việc gọi nhân viên nữ đến phục vụ. Do vậy, chưa đủ cơ sở xác định Đ có vai trò đồng phạm giúp sức cho T, H, H để mua dâm. Hành vi của Đ chưa đủ yếu tố cấu thành tội Mua dâm người dưới 18 tuổi, quy định tại Điều 329 Bộ luật Hình sự.

Đối với Bùi Thị Tuyết Nh: Sau khi được H điều đến để phục vụ nhóm của T thì Nh được T bảo gọi điện cho H để H điều thêm H đến để phục vụ. Việc Nh gọi điện cho H để điều thêm H đến là do yêu cầu của T. Bản thân Nh không có quyền chỉ đạo hoặc yêu cầu H phải điều thêm nhân viên đến. Ngoài ra, Nh không được bàn bạc và không được hưởng lợi gì từ việc này. Do vậy, không đủ cơ sở xác định Nh có vai trò đồng phạm giúp sức trong việc điều H đến nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn không đề cập xử lý về hình sự đối với Nhung.

Đối với Nguyễn Thành Ph, Khổng Thị M là chủ và quản lý cơ sở kinh doanh Homestay Moon House (RAINBOW VILLA): Việc nhóm khách sử dụng ma túy và có hoạt động mại dâm thì Phi, Mười không biết nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn không đề cập xử lý hình sự trong vụ án này. Tuy nhiên, do cơ sở để xảy ra hoạt động tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Sóc Sơn đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

Đối với số thuê bao 0877515201 của người nữ giới bán ma túy cho Tuấn: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh chủ sở hữu đăng ký là Hoàng Thị Bích Ng (sinh năm 2001, trú tại xã Hòa Lạc, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn). Ghi lời khai chị Ng xác định có sử dụng số thuê bao này từ tháng 7/2021 đến khoảng tháng 8/2021 thì chị Ngọc bị mất số thuê bao trên và hiện không còn sử dụng. Chị không biết ai đang sử dụng số thuê bao này nên không có căn cứ để xem xét, xử lý trong vụ án này.

Đối với Lê Quốc Thế H Nguyễn Xuân H, Đoàn Bùi Phương A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an huyện Sóc Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Đối với Bùi Thị Tuyết Nh: Do có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bán dâm nên Công an huyện Sóc Sơn đã áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng và xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo.

Đối với Nguyễn Thị Hồng V: Do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bán dâm nên Công an huyện Sóc Sơn đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo.

Đối với Tạ Thị Thu H: Có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bán dâm nhưng do H chưa đủ 14 tuổi nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn không đề nghị xử lý trong vụ án này.

Đối với Bùi Thị Tuyết Nh, Nguyễn Thị Hồng V, Tạ Thị Thu H, Đoàn Bùi Phương A được Nguyễn Văn H điều đến Homestay để phục vụ cho nhóm của Nguyễn Văn T sử dụng ma túy và quan hệ tình dục. Nh, V, Ha, Phương A là các đối tượng làm thuê và chịu sự chỉ đạo, dẫn dắt, chi phối của H, không có vai trò trong việc quyết định hành vi, hành động của mình. Trong vụ án này, các đối tượng thực hiện hành vi với vai trò là đối tượng sử dụng ma túy, phục vụ nhu cầu quan hệ tình dục và là công cụ để Nguyễn Văn H thực hiện hành vi phạm tội (Môi giới mại dâm và giúp sức cho Tuấn thực hiện việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy). Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn không đặt vấn đề xem xét xử lý đối với các đối tượng này về hành vi giúp sức cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Bộ luật hình sự quy định để có mức hình phạt tương xứng.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho tất cả các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Trung Đ có mẹ đẻ được giám đốc Sở Y tế tặng thưởng giấy khen và được Bộ trưởng Bộ y tế tặng kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân và có ông nội được tặng thưởng Huân chương và Huy chương kháng chiến hạng nhì , bị cáo Nguyễn Xuân H có ông bà là người có công nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhưng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam trong một thời hạn nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, bị cáo T là người trực tiếp mua ma túy, trực tiếp liên hệ với H thuê Phương A, Tuyết Nh, V, Thu H đến Homestay để tổ chức sử dụng ma túy cùng Tuấn, Đức, H, H nên Tuấn có vai trò số 1 và phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Xếp vai trò thứ hai và ngang nhau là bị cáo Đ và bị cáo H, bị cáo Đ là người được T rủ đi cùng để mua ma túy, trực tiếp trả số tiền 11.000.000đồng cho H để H cử các nhân viên nữ đến phục vụ cho nhóm của các bị cáo sử dụng ma túy. Bị cáo H là người đã nhận số tiền 11.000.000đồng từ Đ để điều Phương A, Tuyết Nh, V, Thu H đến Homestay phục vụ nhóm của Tuấn sử dụng ma túy. Cả bị cáo Đ và bị cáo H đều giúp sức cho hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Tuấn. Bị cáo H và H được T rủ sử dụng trái phép chất ma túy và mua dâm nên xếp vai trò sau cùng.

Về vật chứng: Qúa trình điều tra vụ án cơ quan công an thu giữ:

+ 01 đĩa sứ, 01 thẻ cứng, 01 ống hút, 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy tạm giữ của Nguyễn Văn T. Xét đây là những vật sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng và là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 điện thoại di động tạm giữ của T, 01 điện thoại của Nguyễn Văn H, 01 điện thoại thu giữ của Nguyễn Trung Đ, 01 điện thoại của Bùi Thị Tuyết Nh. Xét đây là những phương tiện để các bị cáo dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ. Đối với 01 màn hình máy vi tính, 01 case máy tính thu giữ của Nguyễn Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

+ Đối với số tiền 11.000.000đ H nhận để điều nhân viên đi sử dụng trái phép chất ma túy và quan hệ tình dục. Xét đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu để sung quỹ Nhà nước.

+ Đối với 01 chiếc quần lót thu giữ của Tạ Thị Thu H và 01 chiếc quần lót thu giữ của Bùi Thị Tuyết Nh không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều lao động tự do, không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c Khoản 2 Điều 255, điểm b Khoản 2 Điều 329, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 03 (ba) năm tù về tội Mua dâm người dưới 18 tuổi. Tổng hợp hình phạt cả 02 tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 10 (Mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2022.

Áp dụng Điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm a Khoản 3 Điều 328, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Môi giới mại dâm. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 14 (Mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2022.

Áp dụng Điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Nguyễn Trung Đ 07 (bảy) năm tù, về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2022.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 329, điểm s Khoản 1 Điều 51 (thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo H), Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Lê Quốc Thế Ho 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua dâm người dưới 18 tuổi. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2022.

Xử phạt Nguyễn Xuân H 03 (Ba) năm tù, về tội Mua dâm người dưới 18 tuổi. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ, 01 thẻ cứng, 01 ống hút, 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy tạm giữ của Nguyễn Văn T. Tịch thu tiêu hủy 01 quần lót thu giữ của Tạ Thị Thu H, 01 quần lót thu giữ của Bùi Thị Tuyết Nh. Tịch thu bán sung công 01 điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Văn T, 01 điện thoại của Nguyễn Văn H, 01 điện thoại của Bùi Thị Tuyết Nh, 01 điện thoại thu giữ của Nguyễn Trung Đ. Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H 01 màn hình máy vi tính, 01 case máy tính.

(Tình trạng như biên bản giao nhận giữa cơ quan Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội).

Truy thu của Nguyễn Văn H số tiền 11.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ