vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Nguyễn Đình Ng 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/01/2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 số Imei 1: 350247874221396, Imei 2: 353791664221394 (đã được niêm phong). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Ngọc - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Đình Ng 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/01/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST

Ngày 29-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Xuân Trường

2. Ông Lê Văn Đô.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 40/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình Ng, sinh năm 1981; (Có mặt)

Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: thôn Chớp, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: tự do

Trình độ văn hóa lớp: 9/12

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không

Con ông: Nguyễn Thanh Vân, sinh năm 1961;

Con bà: Nguyễn Thị Thể, sinh năm 1963;

Vợ: Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1982;

Bị cáo có 03, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2016;

Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Bản án số 359/2006/HSST ngày 27/11/2006 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Chấp hành xong án phí ngày 27/7/2007.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hiệp Hòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Hồng Nhung, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: TDP Hưng Thịnh, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi nghã vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn Hưng, sinh năm 1986 (Vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn Hưng Thịnh, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

2. Ông Nguyễn Thanh Vân, sinh năm 1961 (Vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn Chớp, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Người làm chứng: Bà Đặng Thị Thoa, sinh năm 1968 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: TDP Hưng Thịnh, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Người chứng kiến: Chị Nhữ Thị Ngọc Huyền, sinh năm 1996 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: TDP số 2, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 40 phút ngày 06/01/2023, tại quán cà phê Home ở tổ dân phố Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hoà bắt quả tang Nguyễn Đình Ng, sinh năm 1981 ở thôn Chớp, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi cưỡng đoạt tài sản là số tiền 200.000.000 đồng của chị Nguyễn Hồng Nhung, sinh năm 1991, ở tổ dân phố Hưng Thịnh, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Thu giữ của Ngọc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20; 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 98D1-370.73 và 01 túi vải màu đen bên trong có số tiền 200.000.000 đồng. Chị Nguyễn Hồng Nhung giao nộp 01 giấy xác nhận trả tiền có chữ ký, chữ viết của Ngọc.

Quá trình điều tra kết quả như sau: Từ năm 2018, Nguyễn Đình Ng quen biết và nảy sinh tình cảm với chị Nguyễn Hồng Nhung. Trong thời gian quen biết nhau, Ngọc và chị Nhung đã quan hệ tình dục với nhau nhiều lần và Ngọc đã sử dụng điện thoại di động của mình để chụp ảnh, quay clip những hình ảnh nhạy cảm của chị Nhung. Đến năm 2022, Ngọc nghi ngờ chị Nhung có quan hệ tình cảm với người khác nên cả hai xảy ra mâu thuẫn; khoảng cuối tháng 12/2022, chị Nhung nhắn tin để chấm dứt tình cảm với Ngọc. Do bực tức vì bị chị Nhung chia tay nên Ngọc đã sử dụng tài khoản Zalo “Nhật Trường” nhắn tin vào tài khoản Zalo “Nhung Têy” của chị Nhung và đe doạ sẽ đăng những hình ảnh nhạy cảm của chị Nhung lên mạng xã hội để làm mất danh dự của chị Nhung, đồng thời đe dọa sẽ làm hại đến những người thân của chị Nhung. Lúc này, do cần tiền chi tiêu và nghĩ trước đây đã chi tiền cho chị Nhung nên Ngọc nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị Nhung. Để thực hiện ý định của mình, Ngọc liên tục nhắn tin thúc giục, đe doạ, yêu cầu chị Nhung phải đưa cho Ngọc số tiền 230.000.000 đồng thì Ngọc sẽ xóa hết hình ảnh nhạy cảm của chị Nhung, đồng thời không làm hại đến chị Nhung và gia đình. Do lo sợ và chưa chuẩn bị đủ tiền nên ngày 06/01/2023, chị Nhung nhắn tin xin Ngọc giảm số tiền xuống còn 200.000.000 đồng và hẹn gặp Ngọc tại quán cà phê Home ở tổ dân phố Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà để giao tiền. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/01/2023, Ngọc điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát 98D1-370.73 đến quán cà phê Home gặp chị Nhung để nhận tiền. Tại đây, chị Nhung yêu cầu Ngọc viết giấy xác nhận với nội dung đã nhận tiền và cam đoan sẽ không làm hại chị Nhung và gia đình chị Nhung. Sau khi Ngọc viết xong, Ngọc đưa giấy cho chị Nhung và chị Nhung đưa cho Ngọc số tiền 200.000.000 đồng thì Ngọc bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Ngày 31/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chữ viết trên tờ giấy xác nhận đã trả tiền mà chị Nhung giao nộp. Tại Kết luận giám định số 199 ngày 06/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A – trừ chữ viết có nội dung “Nhung - Nguyễn Hồng Nhung”) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Đình Ng trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M4) là do cùng một người ký, viết ra”.

Quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Đình Ng khai nhận hành vi phạm tôi của mình.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 túi vải màu đen và số tiền 200.000.000 đồng là tài sản Ngọc chiếm đoạt của chị Nhung. Ngày 18/01/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nhung.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 là tài sản của Ngọc sử dụng để phạm tội. Chiếc điện thoại này hiện nay Cơ quan điều tra đang tạm giữ chờ xử lý.

Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 98D1-370.73 là của ông Nguyễn Thanh Vân, sinh năm 1961 ở thôn Chớp, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang (bố đẻ của Ngọc), ông Vân không biết hành vi phạm tội của Ngọc. Ngày 18/01/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe môtô này cho ông Vân.

Về trách nhiệm dân sự: Đến nay, chị Nhung không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự đối với Ngọc và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Ngọc.

Tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKS -HH ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình Ng về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại tại phiên tòa hôm nay Nguyễn Đình Ng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Xác định khoảng 21 giờ 40 phút ngày 06/01/2023, tại quán cà phê Home ở tổ dân phố Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Đình Ng, sinh năm 1981 ở thôn Chớp, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang đã có hành vi cưỡng đoạt số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) của chị Nguyễn Hồng Nhung, sinh năm 1991 ở tổ dân phố Hưng Thịnh, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Ng từ 08 (tám) năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời trình bày của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến. Tang vật chứng thu được của vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội.

Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 21 giờ 40 phút ngày 06/01/2023, tại quán cà phê Home ở tổ dân phố Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Đình Ng, sinh năm 1981 ở thôn Chớp, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang đã có hành vi cưỡng đoạt số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) của chị Nguyễn Hồng Nhung, sinh năm 1991 ở tổ dân phố Hưng Thịnh, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Như vậy đã có đủ cơ sơ để kết luận Nguyễn Đình Ng phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật hình sự.

. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu tại Bản án số 259/2006/HSST ngày 27/7/2006 bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiểm đoạt tại sản”.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có điwn xuin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Mặt khác bị cáo đã lợi dụng về mối quan hệ tình cảm giữa bị cáo và bị hại để thực hiện việc chụp ảnh, quay video ghi lại những hình ảnh nhạy cảm về việc quan hệ tình cảm của hai người rồi sử dụng những hình ảnh nhạy cảm đó để đe dọa đăng những video nhạy cảm của lên các trang mạng xã hội nhằm bôi nhọ, danh dự, nhân phẩm của bị hại. Việc này đã làm mất trật tự trị an xã hội, thể hiện sự ngang nhiên coi thường pháp luật, gây hoang mang dao động và bất bình trong quần chúng nhân dân nhất là trong giai đoạn hiện nay tình hình tội phạm về cưỡng đoạt tài sản xẩy ra trên địa bàn huyện Hiệp Hòa có biểu hiện gia tăng. Vì vậy cần phải xử nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và góp phần ngăn đe phòng ngừa chung. Nhưng xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp xét thấy cần được chấp nhận.

Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đáng kể để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không công ăn việc làm, không có thu nhập cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn Hưng là người cho chị Nguyễn Hồng Nhung vay tiền, đến nay anh Hưng đã được chị Nhung trả lại số tiền do bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu gì, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông Nguyễn Thanh Vân là bố ruột bị cáo, khi bị cáo mượn xe để làm phương tiện đi lại, bị cáo không nói cho ông Vân sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện để phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Vân. Ông Vân không có yêu cầu hay đề nghị gì, Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về vật chứng vụ án: Đôi với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 là phương tiện, công cụ do bị cáo sử dụng vào việc đe dọa, liên lạc với bị hại để thực hiện hành vi phạm tôi. Do vậy, cần căn cứ điêm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

. Về án phí: Bị cáo không thuộc đối tượng được miễn án phí, nên căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 170; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Các Điều 292; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Xử phạt: Nguyễn Đình Ng 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/01/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 số Imei 1: 350247874221396, Imei 2: 353791664221394 (đã được niêm phong).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo có mặt biết quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.

Cỡ chữ