vanban.org

Bản án 43/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lôi Thị Bé H như sau: Về hôn nhân: Bà Lôi Thị Bé H được ly hôn với ông Nguyễn Văn P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án h - p"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 8-5-2023
Về việc ly hôn, tranh chấp
về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Thành Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Bá Quyền;

Bà Võ Thị Hồng Tươi.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thuyến, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 48/2023/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/33/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lôi Thị Bé H, sinh năm 1994; địa chỉ thường trú: Xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Tổ 1, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1993; địa chỉ thường trú: Ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang; tạm trú: Nhà trọ L, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/2/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lôi Thị Bé H trình bày:

Sau thời gian tìm hiểu, bà Lôi Thị Bé H và ông Nguyễn Văn P tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới ngày 19/7/2019 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh An Giang vào ngày 07/8/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và cùng làm công nhân để chăm lo cho cuộc sống gia đình. Từ năm 2021, vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tin tưởng nhau, ai cũng cho là mình đúng nên không có tiếng nói chung. Khi mâu thuẫn xảy ra, vợ chồng đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Bà H và ông P đã sống ly thân từ ngày 30/4/2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, ông P và bà H không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Văn P.

Về con chung: Bà H và ông P có 01 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 06/11/2021 hiện đang được bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu ông P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 04/5/2023, bà Lôi Thị Bé H có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bị đơn ông Nguyễn Văn P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn P.

Bà Lôi Thị Bé H và ông Nguyễn Văn P tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh An Giang vào ngày 07/8/2019 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà Lôi Thị Bé H thì trong thời gian chung sống giữa bà H và ông P phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tin tưởng nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện tại, bà H và ông P đã không còn chung sống với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập ông P tham gia tố tụng nhưng ông P vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông P vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông P là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, bà H yêu cầu được ly hôn với ông P là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Bà H và ông P có 01 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 06/11/2021 hiện do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Đối chiếu quy định viện dẫn, bà H hiện đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 06/11/2021 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp thực tế và có căn cứ.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu ông P phải có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con. Ông P vắng mặt trong quá trình tố tụng, không có ý kiến trình bày về việc cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà Lôi Thị Bé H về việc không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lôi Thị Bé H như sau:

- Về hôn nhân: Bà Lôi Thị Bé H được ly hôn với ông Nguyễn Văn P.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 06/11/2021 cho bà Lôi Thị Bé H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Văn P và bà Lôi Thị Bé H đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lôi Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006714 ngày 15/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ