vanban.org

Bản án 43/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Võ Thị Cẩm T và anh Quan Thanh H.

Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị T và anh H. Giao con chung Võ Ngọc Khánh A1, sinh ngày 09/4/2014 cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng, anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi cháu A1 trong vụ án này nên không xem xét, hiện cháu A1 đang sống với anh H. Đối với con chung Võ Quốc H1, sinh …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "43 - T - H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Võ Thị Cẩm T và anh Quan Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
N
TỈN ỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-12-2023
V/v tranh chấp ly hôn (không
công nhận quan hệ vợ chồng)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

N N N N

N

- Th nh ph n H i đ ng t s th m g m c :

Th m phán - Ch t a phi n t a: Ông Đỗ Minh Thìn.

Các H i th m nh n d n:

1. Ông Tô Phú Mỹ.

2. Ông Phan Văn Thiện.

- Thư ký phi n to : Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đ c, tỉnh Đ ng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét x sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 338/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về Tranh chấp ly hôn (không công nhận quan hệ vợ chồng)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số 41/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Cẩm T, sinh năm: 1986.

Địa chỉ: Số A, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh Quan Thanh H, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Số D, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Chị Võ Thị Cẩm T và anh Quan Thanh H v ng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn yêu cầu xét x v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguy n đ n chị Võ Thị C m T c đ n y u c u t

án ng m t, trong uá tr nh gi i uy t án tr nh y ý ki n:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H có tự tìm hiểu nhau khảng 06 tháng trước khi sống chung vợ chồng vào năm 2004, không có tổ chức đám cưới, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như thường xuyên gây gỗ, có những lời nói xúc phạm nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H không quan tâm lo l ng kinh tế gia đình, anh H thường đi uống rượu bia khi say về nhà gây gỗ, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Từ tháng 6/2023 chị T về nhà cha mẹ ruột sinh sống và từ thời gian này vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau đến nay.

Nay chị T nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh H, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn g n, hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị T yêu cầu ly hôn (không công nhận quan hệ vợ chồng) với anh H. Trường hợp không ly hôn thì chị T cũng không trở về đoàn tụ vợ chồng chung sống với anh H.

- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Võ Quốc H1, sinh ngày 21/5/2005 và Võ Ngọc Khánh A1, sinh ngày 09/4/2014. Khi ly hôn chị T đồng ý giao con chung Võ Ngọc Khánh A1 cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi cháu A1, hiện cháu A1 đang sống với anh H; Đối với Võ Quốc H1 đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* ị đ n anh Quan Thanh H c đ n y u c u gi i uy t kiện ng m t, c l i khai trong quá tr nh gi i quy t v án trình y ý ki n:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh H thống nhất với phần trình bày của chị T về thời gian tự tìm hiểu nhau khảng 06 tháng trước khi sống chung vợ chồng vào năm 2004, không có tổ chức đám cưới, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như thường xuyên gây gỗ, có những lời nói xúc phạm nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 6/2023 chị T về nhà cha mẹ ruột sinh sống và từ thời gian này vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau đến nay.

Anh H nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn g n, hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh H đồng ý ly hôn (không công nhận quan hệ vợ chồng) với chị T.

- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Võ Quốc H1, sinh ngày 21/5/2005 và Võ Ngọc Khánh A1, sinh ngày 09/4/2014. Khi ly hôn anh H yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng con chung Võ Ngọc Khánh A1, anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi cháu A1, hiện cháu A1 đang sống với anh H; Đối với Võ Quốc H1 đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Anh H xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* Ý ki n c a Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét x và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét x , Thư ký phiên tòa cũng như nguyên đơn, bị đơn đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về Hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét x chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Võ Thị Cẩm T và anh Quan Thanh H.

- Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét x công nhận sự thỏa thuận của chị T và anh H. Giao con chung Võ Ngọc Khánh A1, sinh ngày 09/4/2014 cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi cháu A1, hiện cháu A1 đang sống với anh H; Đối với con chung Võ Quốc H1 đã trưởng thành và có khả năng lao động, nên không xem xét giải quyết.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Do chị T, anh H xác định là không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét x không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét x giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Nguyên đơn là chị Võ Thị Cẩm T khởi kiện yêu cầu ly hôn (không công nhận quan hệ vợ chồng) với anh Quan Thanh H là loại vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Chị Võ Thị Cẩm T và anh Quan Thanh H v ng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét x v ng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét x v ng mặt đối với chị T, anh H theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của chị Võ Thị Cẩm T về việc yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Quan Thanh H vì giữa chị T và anh H không đăng ký kết hôn. Hội đồng xét x nhận thấy:

- Về hôn nhân: Tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý…”.

Đồng thời, tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.

Hội đồng xét x xét thấy: Chị T và anh H chung sống như vợ chồng từ năm 2004, trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. L ra khi chị T, anh H chung sống với nhau như vợ chồng thì phải có ngh a vụ đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp.

Do chị T, anh H đã không tuân thủ việc kết hôn theo quy định, nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H không hợp pháp, vì không được pháp luật công nhận và không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và ngh a vụ giữa vợ và chồng.

Tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...”.

Trong quá trình chung sống, giữa chị T và anh H phát sinh mâu thuẫn từ năm 2014, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, có những lời nói xúc phạm nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 6/2023 chị T, anh H đã sống ly thân không còn quan tâm chăm sóc cho nhau đến nay, cả hai đều thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn g n, hôn nhân không còn hạnh phúc. Như vậy, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn sự thương yêu, quan tâm lẫn nhau.

Do đó, chị T yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh H là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét x chấp nhận.

- Về nuôi con chung và ngh a vụ cấp dưỡng nuôi con chung:

Chị T, anh H thống nhất giao con chung Võ Ngọc Khánh A1, sinh ngày 09/4/2014 cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi cháu A1, hiện cháu A1 đang sống với anh H, cháu A1 có nguyện vọng sống với anh H; do đó, công nhận sự thỏa thuận này. Đối với con chung Võ Quốc H1 đã trưởng thành và có khả năng lao động không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

- Về chia tài sản chung, nợ chung: Do chị T, anh H xác định là không có, không yêu cầu giải quyết. Nên Hội đồng xét x không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị Cẩm T phải chịu toàn bộ tiền án phí sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.

[4] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét x chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾ ỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 264, 271, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên X :

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Võ Thị Cẩm T và anh Quan Thanh H.

2. Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị T và anh H. Giao con chung Võ Ngọc Khánh A1, sinh ngày 09/4/2014 cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng, anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi cháu A1 trong vụ án này nên không xem xét, hiện cháu A1 đang sống với anh H. Đối với con chung Võ Quốc H1, sinh ngày 21/5/2005 đã trưởng thành và có khả năng lao động không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Võ Thị Cẩm T nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp ngày 15/11/2023 theo biên lai thu số 0003779 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định. N i nh n:

- Tòa án Tỉnh;

Ộ ỒN

- VKSND TP. Sa Đéc;

N – Ủ

N

- Các đương sự;

- Chi cục TH DS TP. Sa Đéc;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án (Thìn).

(Đã ký tên và đóng dấu)

ỗ Minh Thìn

Cỡ chữ