vanban.org

Bản án 43/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Cao Thị Bích L được ly hôn ông Lê Ngọc M.

Về con chung: Bà Cao Thị Bích L và ông Lê Ngọc M có hai con chung tên Lê Thị Bích T, sinh ngày 28/11/2008 và Lê Minh Đ, sinh ngày 22/7/2010. Bà Cao Thị Bích L được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Thị Bích T, sinh ngày 28/11/2008. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Cao Thị Bích L được ly hôn ông Lê Ngọc M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST
Ngày 07 tháng 4 năm 2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thanh Việt

2. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 526/2022/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 83/2023/QĐST-HN, ngày 14 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị Bích L, sinh năm 1988.

Địa chỉ: ấp BQ, xã BP, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Ngọc M, sinh năm 1978.

Địa chỉ: khóm BK 5, phường BK, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin L hôn cùng các lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Cao Thị Bích L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông M tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Khánh vào ngày 23/12/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng thường xảy ra bất hòa do ông M không chí thú làm ăn để lo cho gia đình, vì muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình nên bà nhiều lần tạo cơ hội nhưng ông M vẫn không sửa đổi nên ông bà sống ly thân từ tháng 11 năm 2022 đến nay. Do mâu thuẫn trầm trọng không thể dung hòa, không có hạnh phúc nên bà L yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Lê Thị Bích T, sinh ngày 28/11/2008 và Lê Minh Đ, sinh ngày 22/7/2010. Con chung Lê Thị Bích T do bà L chăm sóc, nuôi dưỡng; ông M chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Lê Minh Đ.

Bà L yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng Lê Thị Bích T sau khi ly hôn, không yêu cầu ông M cấp dưỡng. Bà đồng ý theo nguyện vọng của Lê Minh Đ được tiếp tục sống với ông M khi cha mẹ ly hôn.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án ông M mặc dù được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L. Tại phiên tòa được mở lần thứ hai ông M vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát Tp. Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự như sau:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đúng quy định tại các Điều 171, 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L được ly hôn ông M.

Về con chung: Bà L được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Thị Bích T. Ông M chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Minh Đ. Ông bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông M. Ông M cư ngụ tại phường BK, thành phố Long Xuyên nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà L. Phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng ông M vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Lê Ngọc M.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Ông M và bà L tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Khánh nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân yêu cầu ly hôn theo bà L trình bày sau khi kết hôn vợ chồng thường xảy ra bất hòa do ông M không chí thú làm ăn lo cho gia đình, vì muốn níu kéo tình cảm gia đình bà nhiều lần tạo cơ hội nhưng ông M vẫn không thay đổi. Do mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, hôn nhân không hạnh phúc nên bà L yêu cầu ly hôn ông M.

Quá trình giải quyết vụ án ông M vắng mặt. Theo Phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án tại Công an phường Bình Khánh ngày 30/01/2023 thể hiện: Đương sự Lê Ngọc M, sinh năm 1978 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm BK 5, phường BK, thành phố Long Xuyên. Do ông M vắng mặt, Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông M biết nhưng ông M vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do bà L cung cấp và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu nhằm phản đối yêu cầu khởi kiện của bà L.

Xét thấy, trong gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng và cùng nhau chia sẻ khó khăn trong cuộc sống, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp, duy trì tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, thời gian sống ly thân bà L và ông M không quan tâm, không có biện pháp hòa giải, hàn gắn tình cảm khi mâu thuẫn phát sinh. Phiên tòa được mở lần thứ hai, ông M tiếp tục vắng mặt không có lý do là không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L được ly hôn ông M.

. Về con chung: Bà L và ông M có 02 (hai) con chung tên Lê Thị Bích T, sinh ngày 28/11/2008 và Lê Minh Đ, sinh ngày 22/7/2010. Con chung Lê Thị Bích T do bà L chăm sóc, nuôi dưỡng; ông M chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Lê Minh Đ. Bà L yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng Lê Thị Bích T sau khi ly hôn, không yêu cầu ông M cấp dưỡng. Bà đồng ý theo nguyện vọng của Lê Minh Đ được tiếp tục sống với ông M khi cha mẹ ly hôn, bà không tranh chấp.

Xét thấy, thời gian ông M và bà L sống ly thân cháu T sống ổn định với bà L, cháu Đ sống ổn định với ông M. Do đó, để không xáo trộn cuộc sống hiện tại của hai cháu, đồng thời đáp ứng mong muốn, nguyện vọng của các con chung khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, bà L đồng ý để ông M được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ.

Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy ông M, bà L mỗi người đều có chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Bà L không yêu cầu ông M cấp dưỡng, ông M không có văn bản trình bày ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét về cấp dưỡng nuôi con. Bà L và ông M phải tạo điều kiện cho nhau được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

Bà L và ông M trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết. Ông M không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.

. Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Cao Thị Bích L được ly hôn ông Lê Ngọc M.

2. Về con chung: Bà Cao Thị Bích L và ông Lê Ngọc M có hai con chung tên Lê Thị Bích T, sinh ngày 28/11/2008 và Lê Minh Đ, sinh ngày 22/7/2010.

Bà Cao Thị Bích L được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Thị Bích T, sinh ngày 28/11/2008.

Ông Lê Ngọc M được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Minh Đ, sinh ngày 22/7/2010.

Bà L và ông M không phải cấp dưỡng cho nhau nuôi 02 (hai) con chung do ông M và bà L không yêu cầu.

Ông M, bà L phải tạo điều kiện cho nhau được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

Ông M, bà L trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Cao Thị Bích L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001170, ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ