- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Diễm - Huy"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Lương Quang H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ - ST Ngày: 15 - 6 - 2023 V/v: tranh chấp Hôn nhân và gia đình (Diễm - Huy) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Mã Siêu
Ông Vũ Văn Quảng
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thảo - Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 6 năm 2023 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2023/TLST - HNGĐ ngày 13/4/2023 về tranh chấp "Hôn nhân và gia đình". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXX - ST ngày 23/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2023/QĐST - HNGĐ ngày 08/6/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D- sinh năm 1995
HKTT: thôn A.C, xã Đ.X, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ: thôn H.L.B, xã Đ.L, huyê ̣n Tiền Hải , tỉnh Thái Bình .
Bị đơn:
Anh Lƣơng Quang H– sinh năm 1995
Địa chỉ: thôn A.C, xã Đ.X, huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
(Chị D có đơn xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lương Quang H kết hôn trên cơ sở t ự nguyê ̣n, cướ i có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ.X, huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 15/01/2016. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh H không tu chí làm ăn, không đóng góp xây dựng kinh tế chung của gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, thiếu tôn trọng lẫn nhau và đôi khi anh H đánh chị. Mặt khác chị phát hiện anh H đang có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Do mâu thuẫn vợ chồng quá trầm trọng nên chị đã phải về nhà bố mẹ đẻ tại xã Đ.L sinh sống từ cuối năm 2022 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lương Quang H.
Về con chung: Chị và anh Lương Quang Huy có 01 con chung là Lương Nguyễn Bảo K- sinh ngày 17/9/2015. Hiê ̣n cháu đang sinh sống, học tập tại xã Đ.L, huyện Tiền Hải và ở cùng chị. Ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con mà không cần anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Việc anh H cấp dưỡng nuôi con như thế nào là tuỳ vào tâm của anh đối với con.
Về quan hệ tài sản: Chị và anh Lương Quang H không có tài sản chung, không có nợ chung và không cho ai vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấ y lời khai cụ Vũ Thị H (bà nội anh Lƣơng Quang H), cụ trình bày:
Về hôn nhân: Về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn như chị D trình bày ở trên. Quá trình chung sống vợ chồng anh, chị chung sống hạnh phúc tại gia đình cụ đến năm 2022 thì chị D đưa con về nhà ngoại sinh sống từ đó đến nay. Nay chị D có đơn ly hôn, quan điểm của gia đình đó là việc của các cháu, gia đình không có quan điểm.
Về con chung: Chị D, anh H có 01 con chung như chị D trình bày, hiện cháu đang sinh sống cùng chị D. Nếu việc ly hôn đặt ra giải quyết, đề nghị Toà án giải quyết về nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Cụ không biết vợ chồng anh H, chị D có tài sản gì chung không.
* Biên bản xác minh tại UBND xã Đông Xuyên, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình: Chị Nguyễn Thị D và anh Lương Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại xã ngày 15/01/2016; Anh, chị có 01 con chung là Lương Nguyễn Bảo K– sinh ngày 17/9/2015. Quá trình chung sống anh , chị có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể là gì thì địa phương không nắm bắt được. Nay chị D đề nghị ly hôn anh H và nuôi con, địa phương đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đinh đảm
̀ bảo quyền lợi ích cho các bên cũng như sự phát triển tốt nhất của con chung. Đối với tài sản của vợ chồng anh , chị đi ̣a phương không nắm được cụ thể như thế nào.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, hợp lệ cho người bị kiện. Nguyên đơn, bị đơn về cơ bản chấp hành pháp luật tố tụng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Lương Quang H là hợp pháp. Do hôn nhân giữa chị D, anh H không thể hàn g ắn, thực tế hôn nhân không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D, xử cho chị được ly hôn anh Lương Quang H.
+ Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Lương Quang H có 01 con chung là Lương Nguyễn Bảo K– sinh ngày 17/9/2015. Hiê ̣n cháu đang sinh sống, học tập tại xã Đ.L, huyện Tiền Hải và ở cùng chị D. Ly hôn, anh H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không thể hiện quan điểm về việc nuôi con. Chị D có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hiện tại chị D đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, đảm bảo điều kiện cho cháu phát triển. Mặt khác cháu K có nguyện vọng ở cùng chị Diễm. Do đó ly hôn, đề nghị HĐXX giao cháu K cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
+ Về quan hê ̣ tài sản : Không đă ̣t ra giải quyết trong vu ̣ án này , vấn đề tài sản được đặt ra giải quyết khi một trong các bên đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị D và anh Lương Quang H là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H có đăng ký hô ̣ khẩu thườ ng trú và hiện đang sinh sống tại huyện Tiền Hải , tỉnh Thái Bình do đó yêu cầu khởi kiê ̣n này thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là đúng với quy định tại Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ; anh H đa đượ̃
c Tòa án triê ̣u tâ ̣p hợp lê ̣ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt ta ̣i phi ên tòa không lý do vi vâ ̣y Hội
̀ đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Lương Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ.X, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 15/01/2016 đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh H không tu chí làm ăn, không đóng góp xây dựng kinh tế chung của gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, thiếu tôn trọng lẫn nhau và anh H có quan hệ với người phụ nữ khác. Dẫn đến từ cuối năm 2022 chị D đã cùng con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Từ thời điểm cuối năm 2022 này anh chị sống ly thân, không quan tâm tới cuộc sống của nhau. Điều này chứng tỏ anh, chị không còn tinh
̀ cảm dành cho nhau, hôn nhân đã không thể hàn gắn, cuô ̣c sống hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D, xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Lương Quang H là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Lương Quang H có 01 con chung là Lương Nguyễn Bảo K– sinh ngày 17/9/2015. Hiê ̣n cháu đang sinh sống, học tập tại xã Đ.L, huyện Tiền Hải và ở cùng chị D. Ly hôn: anh H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không thể hiện quan điểm về việc nuôi con. Chị D có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hiện tại chị D đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, đảm bảo điều kiện cho cháu phát triển. Mặt khác cháu K có nguyện vọng ở cùng chị D. Do đó, HĐXX giao cháu K cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi tròn 18 tuổi và ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Anh Lương Quang H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Không đă ̣t ra giải quyết trong vu ̣ án này.
Về án phí: chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Lương Quang H.
2. Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Lương Quang H có 01 con chung là Lương Nguyễn Bảo K– sinh ngày 17/9/2015. Ly hôn: Giao cháu Lương Nguyễn Bảo K cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không buộc anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Anh Lương Quang H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu.
3. Về quan hê ̣ tài sản: Không đă ̣t ra giải quyết trong vu ̣ án này.
4. Về án phí: chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ chị D đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002356 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 13/4/2023 sang thi hành án phí.
5. Về quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị D, anh Lương Quang H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| *Nơi nhận: - Đương sự; - VKS huyện Tiền Hải; - THADS huyện Tiền Hải; - UBND xã Đông Xuyên, h. Tiền Hải; - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. Thành viên Hội đồng xét xử Phạm Mã Siêu Vũ Văn Quảng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi |