vanban.org

Bản án 43/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Trương Văn C.

Về con chung: Giao cháu Trương Bảo Q, sinh ngày 03/8/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Quốc Đ, sinh ngày 02/01/2017, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị T, anh C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T xin ly hôn anh C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Trương Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18/5/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1.

Bà Quách Thị Tình

2.

Ông Quách Hà Vính

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiên- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T; Sinh năm 1998

Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

-Bị đơn: Anh Trương Văn C; Sinh năm: 1991

Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 03/02/2023 và bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trương Văn C kêt hôn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương và có làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 06/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, vợ chồng hòa thuận được 3 năm thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ và đã có lần dẫn đến đánh đập. Thời gian kéo dài khiến cho chị cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Hai bên gia đình đã nhiều lần động viên, khuyên bảo nhưng vợ chồng vẫn không hòa hợp được. Hiện tại, chị và anh C đã sống ly thân hơn 3 năm, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trương Quốc Đ, sinh ngày 02/01/2017 và Trương Bảo Q, sinh ngày 03/8/2018. Ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và giao cháu Đ cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 22/02/2023, anh Trương Văn C trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng kí kết hôn kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 06/7/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận được một thời gian thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do sau khi vợ chồng ra ở riêng, kinh tế gia đình chưa ổn định nên vợ chồng thường xuyên sảy ra cãi cọ. Tuy nhiên, chị T không thông cảm mà đã bỏ nhà đi gần 3 năm nay không về nhà và vợ chồng cũng ly thân từ đó, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị T xin ly hôn với anh, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trương Quốc Đ, sinh ngày 02/01/2017 và Trương Bảo Q, sinh ngày 03/8/2018. Ly hôn, anh C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Trương Văn C; Về con chung: Giao cháu Trương Bảo Q, sinh ngày 03/8/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Quốc Đ, sinh ngày 02/01/2017, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.

. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh C xin vắng mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh C theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.

. Nguyên đơn là chị Bùi Thị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.

. Tại phiên tòa hôm nay, chị T và anh C vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, tòa án xét xử vắng mặt chị T và anh C.

. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Trương Văn C kêt hôn tự nguyện, có làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 06/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, vợ chồng hòa thuận được 3 năm thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị T và anh C đã sống ly thân đã 3 năm, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Việc này, cả chị T và anh C đều thừa nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương. Đến nay, chị T và anh C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Bùi Thị T và anh Trương Văn C được ly hôn.

. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung. Xét thấy cháu Q là con gái, lại đang còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ, còn cháu Đ là con trai nên giao cho bố trực tiếp nuôi dưỡng sẽ phù hợp về mặt tình cảm và giới tính. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Q cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

. Về tài sản: Chị T và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

. Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Trương Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Trương Bảo Q, sinh ngày 03/8/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Quốc Đ, sinh ngày 02/01/2017, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Chị T, anh C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2021/0007941 ngày 09/02/2023. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Bùi Thị T và anh Trương Văn C. Chị T và anh C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ