vanban.org

Bản án 43/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N T ly hôn anh Phan D A.

Về con chung: Giao cháu Phan D N, sinh ngày 10/10/2019 cho chị Nguyễn Thị N T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Phan D A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Thi N T- Phan D A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N T ly hôn anh Phan D A.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/4/2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P– TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Danh Hưởng

2. Ông Đặng Văn Chiểu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Pxét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N T, sinh năm 2000. Địa chỉ: ấp V, xã Đ, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Phan D A, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp P, xã Đ, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị N T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh D A tự nguyện sống chung từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2021 do sống chung không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn và không còn tình cảm. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh D A.

Về con chung: Chị và anh D A có 01 người con chung là Phan D N, sinh ngày 10/10/2019, hiện đang sống với chị T. Chị T yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Phan D A trình bày:

Về hôn nhân: Anh thống nhất về thời gian sống chung, đăng ký kết hôn và ly thân như chị T trình bày. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh D A không đồng ý, vì anh D A muốn hàn gắn hôn nhân.

Về con chung: Anh và chị T có một người con chung như chị T trình bày là đúng. Anh D A đồng ý giao con chung là Phan D N, sinh ngày 10/10/2019 cho chị T tiếp tục nuôi, anh D A không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh D A.

+ Về con chung: Giao cháu Phan D N, sinh ngày 10/10/2019 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh D A có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh D A, anh D A đang cư trú trên địa bàn huyện Pnên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Pthụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh D A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị T và anh D A là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị T và anh D A tự nguyện sống chung từ năm 2009 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh D A là hôn nhân hợp pháp, tuy nhiên trong quá trình sống chung chị T và anh D A xảy ra mâu thuẫn mà không hàn gắn được. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, sống chung với nhau nhưng chị T và anh D A không quan tâm đến nhau. Anh D A không đồng ý ly hôn chị T, vì muốn hàn gắn hôn nhân, nhưng anh D A không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn hôn nhân. Mặt khác, tại biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án, anh D A xác định anh D A và chị T sau khi cưới nhau sống rất hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn và anh D A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa, nhưng anh D A không đến, cho thấy anh D A đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Trong khi đó, chịp T xác định không còn tình cảm với anh D A và cương quyết ly hôn. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị T và anh D A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh D A.

Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của chị T và anh D A thống nhất có một người con chung là Phan D N, sinh ngày 10/10/2019, hiện đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và quá trình làm việc anh D A xác định cháu Nhất sống với chị T từ khi ly thân cho đến nay, cháu vẫn phát triển bình thường, việc này anh D A cũng thừa nhận. Hiện tại, cháu Nhất còn rất nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó, để đảm bảo cuộc sống cháu Nhất được ổn định, không bị xáo trộn, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T. Giao cháu Phan D N, sinh ngày 10/10/2019 cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Phan D A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh D A không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N T ly hôn anh Phan D A.

2. Về con chung: Giao cháu Phan D N, sinh ngày 10/10/2019 cho chị Nguyễn Thị N T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Phan D A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị T đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005623 ngày 10/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pnên được chuyển sang thu án phí.

Anh Phan D A không phải chịu án phí.

6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ