- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/7/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh và ông Võ Quang Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thùy Trang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: ông Phan Anh Tài - Kiểm sát viên
Trong ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 120/2023/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 về yêu cầu “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 40/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1991. (Có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Hiền trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Q kết hôn với nhau vào ngày 09 tháng 3 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, đã ly thân nhau từ năm 2022 đến nay, không còn tình cảm và không thể quay lại với nhau nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Q có một con chung là Nguyễn Trần H, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2012. Ly hôn chị H nhường quyền trực tiếp nuôi con chung cho anh Q và có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng một triệu đồng.
Về tài sản chung, nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn Q:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh Q biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh Q nhưng anh Q không nhận, không ký vào các biên bản giao nhận tài liệu nên mẹ đẻ của anh Q là bà Nguyễn Thị H nhận thay và cam kết giao lại cho anh Q. Tòa án đã tiến hành niêm yết các tài liệu, chứng cứ tại nhà và tại địa phương nơi anh Q cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật
- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H là cho ly hôn với anh Nguyễn Văn Q; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Trần H, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2012 cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành; Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị H có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho đến khi con chung trưởng thành; Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị H có nơi cư trú tại xóm T, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Q là bị đơn có nơi cư trú tại xóm T, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Nguyễn Văn Q có hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh Q biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh Q nhưng anh Q không nhận và không ký vào biên bản giao nhận nên mẹ của anh Q là bà Nguyễn Thị H đã ký nhận thay đồng thời thông báo cho anh Q biết thời gian, địa điểm đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh Q không hợp tác. Toà án đã tiến hành niêm yết các tài liệu, giấy triệu tập và các chứng cứ tại địa phương nơi anh Q cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn Q kết hôn với nhau vào ngày 09 tháng 3 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì anh Q tính cách thay đổi nên vợ chồng không hợp nhau, chị H thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, đã ly thân nhau từ đầu năm 2022 đến nay, chị H không còn tình cảm với anh Q nữa. Xét thấy tình cảm giữa chị H và anh Q không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị H.
2.2. Về con chung: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn Q có một con chung là Nguyễn Trần H, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2012. Quá trình chị H và anh Q sống ly thân thì cháu Nguyễn Trần H ở với anh Q nên chị H nhường quyền nuôi con chung cho anh Q, cháu Nguyễn Trần H có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở với bố. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung, hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung Nguyễn Trần H cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành là phù hợp.
2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H có có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho đến khi con chung trưởng thành.
2.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58, điều 81, 82, 83, 84, 110 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.
1.Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị H ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
2.Việc nuôi con: Giao con chung Nguyễn Trần H, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2012 cho anh Nguyễn Văn Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành. Chị H có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho đến khi con chung trưởng thành.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật anh Q có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung, trường hợp chị H chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0004006 ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.
4. Nguyên đơn chị Trần Thị H có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Nguyễn Văn Q có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND h. Nghĩa Đàn - Chi cục THADS h. Nghĩa Đàn - TAND tỉnh Nghệ An - UBND xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An (nơi ĐKKH) - Lưu hồ sơ vụ án | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hương |