- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thùy Trang - Trương Văn Trúc"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trương Văn T212.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20-6-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Thanh Phong
Ông Hứa Trọng Nhơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Công là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thùy T, sinh năm 1988 (xin vắng).
Bị đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Bùi Mắc, xã Đất Mới, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thùy T trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Trần Thùy T và ông Trương Văn T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2010. Hôn nhân có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đất Mới, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Sau khi thành hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm và do ông T không đưa thu nhập của ông để bà chăm lo, trang trải trong gia đình. Bà T có khuyên nhưng ông T không sửa đổi. Vào năm 2019 vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do ông T212 không chung thủy trong vấn đề tình cảm, mỗi người có cuộc sống riêng, vợ chồng bà cũng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Thời gian ly thân giữa bà T và ông T cũng không khắc phục được mâu thuẫn.
Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân tiếp tục duy trì không hạnh phúc nên bà T yêu cầu ly hôn với ông Trương Văn T.
- Về nuôi con chung: Bà T xác định vợ chồng bà có 01 người chung tên Trương Phương Thảo, sinh ngày 22 tháng 5 năm 2011 (nữ). Hiện con chung đang sống chung với bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Trương Văn T:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà ông T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà T. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vẫn không tham gia.
Tại phiên tòa:
Bà Trương Văn T và ông Trương Văn T vắng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thùy T yêu cầu ly hôn với ông Trương Văn T, yêu cầu nuôi con chung nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; ông T cư trú tại ấp B, xã Đ, huyện N, tỉnh C . nên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Bà Trần Thùy T có đơn xin vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà T là phù hợp.
Đối với ông Trương Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 02 tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T.
. Về nội dung:
- Về hôn nhân: Năm 2010 qua thời gian tìm hiểu nên bà T và ông T kết hôn với nhau. Hôn nhân có lập thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đất Mới, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau vào ngày 16 tháng 7 năm 2012 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62. Vì vậy quan hệ hôn nhân của bà Trương Văn T và ông Trương Văn T được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Lý do bà T yêu cầu ly hôn với ông T: Do vợ chồng thường bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông T không chung thủy trong vấn đề tình cảm và không cùng bà T chăm lo kinh tế cho gia đình. Vợ chồng ông bà sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian ly thân giữa hai đương sự cũng không khắc phục được mâu thuẫn.
Tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Xét thấy, bà Trần Thùy T và ông Trương Văn T đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng, nếu hàn gắn hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thùy T với ông Trương Văn T theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về nuôi con chung: Bà T xác định vợ chồng bà có 01 người chung tên Trương Phương Thảo, sinh ngày 22 tháng 5 năm 2011 (nữ). Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng bà T sống ly thân thì con chung do bà T212 trực tiếp nuôi dưỡng. Đặc biệt, cháu Thảo là con gái, việc phát triển về thể chất của cháu gắn liền với sự thay đổi về tâm sinh lý của người phụ nữ, vấn đề thay đổi này cần có người gần gũi để tâm sự, chia sẻ, người gần gũi nhất của con gái không ai khác là người mẹ. Ngoài ra, hiện nay cháu Thảo bị bệnh tăng động giảm chú ý, khi sống cùng bà T thì bà cũng đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để cho cháu được điều trị bệnh. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Trương Phương Thảo cho bà T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp với Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự“Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch bà Trương Văn T212 phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà T212 được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trương Văn T212. Cho bà Trần Thùy T được ly hôn với ông Trương Văn T.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Trương Phương Thảo, sinh ngày 22 tháng 5 năm 2011 (nữ) cho bà Trần Thùy T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch bà Trần Thùy T phải chịu 300.000 đồng. Ngày 20 tháng 3 năm 2023, bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016037 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn được đối trừ, bà T không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Năm Căn; - Chi cục THADS huyện Năm Căn; - Những người tham gia tố tụng; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng kết hôn; - Lưu VT; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hồng Ngân |