- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Lệ Diễm - Phạm Văn Tùng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Lệ D.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày 24/10/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và bà Bùi Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 138/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Lệ D, sinh năm 1985, nơi cư trú: Làng U, xã H, huyện G, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1982, nơi cư trú: Làng U, xã H, huyện G, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị Trang trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Lệ D và ông Phạm Văn T kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H theo giấy đăng ký kết hôn số 24 ngày 29/5/2006. Trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cải vả, xô xát nhau. Hiện đã ly thân 04 năm. Bà D thấy mâu thuẫn hôn nhân trầm trọng nên yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà D và ông T có 02 con chung, là Phạm Văn T, sinh ngày 17/01/2006 và Phạm Văn T1, sinh ngày 09/3/2007. Trong đơn khởi kiện, bà D yêu cầu được nuôi 02 con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng, tuy nhiên sau đó bà D có thay đổi yêu cầu, cụ thể yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Văn T, ông T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Văn T1.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của bị đơn là ông Phạm Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T vắng mặt không cung cấp ý kiến, yêu cầu và tài liệu, chứng cứ.
- Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đảm bảo, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn là bà Võ Thị Lệ D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Phạm Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Bà D và ông T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và có đăng ký kết hôn, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu ly hôn của bà D: Bà D cho rằng quan hệ hôn nhân giữa bà và ông T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, đã không còn chung sống với nhau 04 năm. Ông T đã được Tòa án thông báo yêu cầu khởi kiện cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo nhưng không có ý kiến phản đối những tình tiết bà D đã đưa ra; đồng thời không tham gia hòa giải tranh chấp, điều này thể hiện không còn quan tâm hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn hôn nhân của bà D và ông T đã trầm trọng, không chung sống với nhau trong thời gian dài và không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D theo quy định tại các Điều 19, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Văn T và ông T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Văn T1. Xét ông T không có ý kiến phản đối yêu cầu của bà D, yêu cầu này phù hợp với nguyện vọng của các con và cả hai bên đều đảm bảo khả năng nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D.
Bà D và ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không trực tiếp nuôi dưỡng mà không ai được cản trở, tuy nhiên phải tôn trọng, không được lạm dụng quyền thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và có quyền yều cầu thay đổi người nuôi con khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện nuôi con theo quy định tại các Điều 82, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Bà D phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điểu 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Soan Thường vụ Quốc hội;
- Áp dụng các Điều 56, 58 của Luật hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Lệ D.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Thị Lệ D và ông Phạm Văn T.
- Về con chung: Bà Võ Thị Lệ D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Văn T, sinh ngày 17/01/2006 và ông Phạm Văn T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Văn T1, sinh ngày 09/3/2007; cho đến khi con thành niên, đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Bà Võ Thị Lệ D và ông Phạm Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không trực tiếp nuôi dưỡng mà không ai được cản trở và có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con khi người đó không còn đảm bảo điều kiện trực tiếp nuôi con.
2. Về án phí: Bà Võ Thị Lệ D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009006 ngày 15/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Ia Grai; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - UBND xã H, huyện Ia Grai; - Lưu hồ sơ vụ án - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Văn Huy |