- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T - Ly hôn do mâu thuẫn vợ chồng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 01 - 2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Khanh.
2. Ông Huỳnh Văn Đẹp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1148/2020/TLST-HNGĐ ngày 03/11/2020 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 438/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/12/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 400/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26/12/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; địa chỉ: 45/22/6 đường H, khu phố A, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1971; địa chỉ: 81/3G tổ A, ấp X3, xã X, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 19/10/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án,nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Minh T tự nguyện chung sống với nhau năm 2009, được Ủy ban nhân dân phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 171, quyển số 01 ngày 07/10/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bà T ở Quận 12 nhưng không hạnh phúc, do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Từ năm 2017, ông T chuyển về nhà cha mẹ ruột tại Hóc Môn sinh sống nên vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc, không quan tâm, chăm sóc nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, không ai mong muốn đoàn tụ, tiếp tục chung sống với nhau nên bà xin được ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống. Vợ chồng bà không có con chung, không có nợ chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Minh T đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với ông T, xác nhận vợ chồng không có con chung, không có nợ chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng Thẩm phán có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử nên kiến nghị rút kinh nghiệm. Về việc giải quyết vụ án: Bà T và ông T chung sống có đăng ký kết hôn nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp; bà T xin ly hôn do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, sống ly thân và bỏ mặc nhau từ năm 2017, vợ chồng không thể hàn gắn, đoàn tụ; ông T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi là không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ; ghi nhận việc bà T trình bày vợ chồng bà không có con chung, không có nợ chung, không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn; Bị đơn có địa chỉ thường trú tại huyện Hóc Môn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn.
[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là ông Nguyễn Minh T đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa kèm các Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 171, quyển số 01 ngày 07/10/2010 của Ủy ban nhân dân phường T, Quận 12, Tp.Hồ Chí Minh, xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T là hợp pháp, quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Xét yêu cầu ly hôn:
Bà T trình bày bà và ông T kết hôn từ năm 2010 nhưng không hạnh phúc, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, bỏ mặc nhau từ năm 2017 mà không ai có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ nên bà xin được ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống.
Ông T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi là bỏ mặc mâu thuẫn vợ chồng, không có thiện chí hàn gắn, không có giải pháp đoàn tụ gia đình.
Tại các Biên bản xác minh ngày 31/3/2022, và ngày 03/11/2022, đại diện Ban nhân dân ấp X3, xã X, huyện Hóc Môn, và đại diện Ban điều hành khu phố A, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cùng xác định không nắm rõ mâu thuẫn vợ chồng của bà T và ông T, do vợ chồng bà T, ông T không trình báo mâu thuẫn vợ chồng trong quá trình sinh sống tại địa phương.
Tại phiên tòa, mặc dù đã được động viên đoàn tụ vợ chồng để cùng cố gắng xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng bà T cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông T.
Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông T đã kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay mà không ai có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ khiến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T xin ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận, theo quy định tại khoản 1 Điều 51, và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[5] Về con chung, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà T khai vợ chồng bà không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ”. Ông T không phản hồi ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nên phải tự chịu trách nhiệm. Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0076622 ngày 03/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND huyện Hóc Môn; - THADS huyện Hóc Môn; - UBND phường T, Quận 12, Tp.Hồ Chí Minh; - Các đương sư; - Lưu VT, hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA (đã ký) Phạm Văn Huy |