- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Chiểu-Cắt"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố không công nhận bà Đặng Kim C và ông Châu Văn C là vợ chồng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2023 V/v tranh chấp: “Ly hôn” |
NINH
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Q.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Dân A.
2. Ông Lê Công Q.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Thảo Q - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh N - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 139/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Kim C, sinh năm 1964 (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Trú tại: Số 112, Tổ 15, đường Nguyễn Lương B, ấp Trường P, xã Trường Đ, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Ông Châu Văn C, sinh năm 1960 (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Trú tại: Số 172, Tổ 7, ấp Năm T, xã Trường Đ, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 19/5/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Đặng Kim C trình bày:
Về hôn nhân: Bà C và ông C chung sống với nhau từ năm 1993 do tự nguyện, không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau khi sinh con thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình nên hai người đã ly thân gần 30 năm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà C yêu cầu được ly hôn với ông C.
Về con chung: Có 01 con tên Châu Tuấn K, sinh năm 1994. Nếu ly hôn, cháu Khiêm đã thành niên, bà C không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Bà C không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà C không yêu cầu giải quyết.
- Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Châu Văn C trình bày:
Về hôn nhân: Ông C thống nhất lời trình bày của bà C về thời gian chung sống, không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn như bà C trình bày nên hai người đã ly thân gần 30 năm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà C yêu cầu được ly hôn, ông C cũng đồng ý.
Về con chung: Có 01 con như bà C trình bày. Nếu ly hôn, cháu Khiêm đã thành niên, ông C không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Ông C không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Ông C không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là bà C, bị đơn là ông C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà C, ông C là phù hợp theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Bà C và ông C chung sống với nhau từ năm 1993 nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét thấy, bà C và ông C chung sống như vợ chồng, có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng vẫn không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Do đó, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà C và ông C.
Về con chung: Cháu Châu Tuấn K, sinh năm 1994 đã thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà C và ông C không yêu cầu giải quyết.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 14, Điều 51 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án:
Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà C và ông C.
Về con chung: Bà C và ông C không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà C và ông C không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Bà C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Ông Châu Văn C là bị đơn có nơi cư trú tại nhà số 172, Tổ 7, ấp Năm T, xã Trường Đ, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh nên Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý vụ án là đúng theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: trong quá trình thu thập chứng cứ cho đến khi xét xử, nguyên đơn là bà C và bị đơn là ông C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với bà C, ông C là đúng với quy định tại Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993, hôn nhân là do tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Bà C và ông C chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau khi sinh cháu Khiêm thì hai bên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình, tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà C và ông C đã ly thân từ năm 1994 cho đến nay. Bà C và ông C đều yêu cầu được thuận tình ly hôn, tuy nhiên do bà C và ông C chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạ m quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử không xem xét việc cho ông bà ly hôn hay đoàn tụ mà tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa bà C và ông C là vợ chồng theo quy định tại Điều 9, Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Có 01 con tên Châu Tuấn K, sinh năm 1994, cháu Khiêm đã thành niên, bà C và ông C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Bà C và ông C không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà C và ông C không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Bà C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành là hợp lý nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 51 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố không công nhận bà Đặng Kim C và ông Châu Văn C là vợ chồng.
2. Về con chung: Cháu Châu Tuấn K, sinh năm 1994 đã thành niên, bà C và ông C không yêu cầu giải quyết.
3. Về tài sản chung: Bà C và ông C không yêu cầu giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà C và ông C không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0021539 ngày 24/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận bà C đã nộp xong tiền án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Hòa Thành; - CC.THADS thị xã Hòa Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. |