- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồng _vinh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Viết V được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày 26-6-2023 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Phương – bà Lê Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 136/2023/TLST-HNGĐ ngày 10/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án huyện Di Linh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; sinh năm 1985. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn KK, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Viết V; sinh năm 1982. Vắng mặt.
Địa chỉ: Số TT, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ án chị H trình bày như sau:
Chị và anh V sống chung có đăng ký kết hôn ngày 13/11/2007 tại UBND xã Gung Ré, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn được khoản 09 năm thì vợ cH phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ cH vợ cH không phù hợp trong cách suy nghĩ và trong sinh hoạt hàng ngày. Anh V thường hay uống rượu, nhiều lần đánh đập vợ con. Đã có lần anh V đổ Xăng đòi đốt, dùng dao đe dọa giết chị H. Từ tháng 3/2023 vợ cH đã sống ly thân. Nay không còn yêu thương nên xin ly hôn với anh V. Vợ cH không có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Bảo Anh; sinh ngày 08/01/2016 và cháu Nguyễn Hoàng Bảo Uyên; sinh ngày 13/5/2008. Khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Về phần tài sản, vợ cH tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ cH không có thỏa thuận gì về chế độ tài sản của vợ cH. Tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu là giấy kết hôn.
Bị đơn, anh V trình bày: Việc kết hôn, đăng ký kết hôn, con chung, và tài sản chung như chị H trình bày là đúng. Anh V thừa nhận có nhiều lần do uống rượu không làm chủ bản thân nên có đánh chị H, nay đã biết sai mong muốn được chị H bỏ qua, anh muốn đoàn tụ, không muốn ly hôn. Nếu phảil y hôn thì anh đồng ý giao 02 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo mức 1.500.000đ /01 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Ý kiến trình bày của cháu Nguyễn Hoàng Bảo Anh và cháu Nguyễn Hoàng Bảo Uyên theo bản tự khai thì các cháu đều mong muốn được sống chung với chị H.
Theo biên bản xác minh ngày 16/5/2025, tại UBND xã Gung ré cho thấy. Đúng là trong quá trình chung sống tại địa phương. Vợ cH anh V chị H thường sảy ra việc đánh chửi nhau. Tòa án xem xét cho vợ cH được ly hôn là phù hợp.
Tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải:
Anh V không đến làm việc, chi H có đơn không yêu cầu hòa giải. Tòa án đã tiến hành việc tiếp cận công khai chứng cứ và gởi kết quả buổi tiếp cận công khai chứng cứ cho các đương sự theo quy định.
Tại phiên tòa
Chị H có thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị làm nghề mua bán hàng ăn, htu nhập khoản 10.000.000đ/tháng, hoàn toàn có đủ khả năng nuôi các con. Các vấn đề khác chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, tự nguyện chịu án phí theo quy định, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh (VKS) phát biểu: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự sự năm 2015.
Về nội dung tranh chấp: Đề nghị căn cứ vào Điều 51; 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Chị H và anh V hiện nay có nơi đăng ký thường trú tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, tranh chấp về ly hôn và giao con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định.
Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh V lần thứ hai không lý do. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.
Nội dung tranh chấp.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Viết V sống chung có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn, vào ngày 13/11/2007 tại UBND xã Gung Ré, huyên Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Đến đấu năm 2016 thì vợ cH phát sinh mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, không tìm được cách giải quyến mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chính là do anh V thường hay uống rượu về nhà đánh chửi vợ con, đã có lần anh V đổ xăng, đốt chị H. Vợ cH đã ly thân từ tháng 3/2023 cho đến nay không còn liên lạc với nhau. Trong quá trình tòa án giải quyết, anh V không đến tòa tham gia hòa giải, nội dung này cho thấy bản thân anh V cũng không còn quan tâm, không có mong muốn trở về đoàn tụ. Nhận thấy tình cảm vợ cH không còn yêu thương quý trọng, lo lắng cho cuộc sống chung. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết cho chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Viết V được ly hôn là phù hợp.
Về nuôi con chung: Xét điều kiện nuôi dậy con chung, nguyện vọng của các đương sự và nguyện vọng của các con chung. Hội đồng xét xử cần giao cả hai con chung tên Nguyễn Hoàng Bảo Anh; sinh ngày 08/01/2016 và cháu Nguyễn Hoàng Bảo Uyên; sinh ngày 13/5/2008 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Viết V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về phần tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị H phải chịu là 300.000 đồng án phí xin ly hôn. Được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013944 ngày 10/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.
Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147 điểm d khoản 2 Điều 227 và 228; 235 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Viết V được ly hôn.
2. Về nuôi con chung: Khi vợ cH ly hôn, giao cả hai con chung tên Nguyễn Hoàng Bảo Anh; sinh ngày 08/01/2016 và Nguyễn Hoàng Bảo Uyên; sinh ngày 13/5/2008 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Viết V không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo luật hôn nhân và gia đình.
3. Về phần tài sản: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn. Được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013944 ngày 10/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.
Trong trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Hữu V vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Di Linh; - Chi cục THADS huyện Di Linh; - UBND xã Gung Ré; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Cường Huy |