vanban.org

Bản án 43/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị H đối với ông Nguyễn Thanh L về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L. Về con chung: Giao cho bà Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 11/02/2015; giao cho ông Nguyễn Thanh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Vân A, sinh ngày 20/3/2017; không bên … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị H - Nguyễn Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị H đối với ông Nguyễn Thanh L về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-8-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trưỡng Hữu Bình;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 291/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 17/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1986. HKTT: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; tạm trú: Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 16/6/2023, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn (bà H) trình bày:

Bà H và ông L chung sống với nhau từ năm 2014, hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 02/7/2014.

Quá trình chung sống bà H và ông L có nhiều mâu thuẩn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Ông L thường xuyên uống rượu, khi uống rượu về là đánh bà H. Nhiều lần bà H khuyên bảo ông L thay đổi để hàn gắn tình cảm gia đình nhưng ông L vẫn chứng nào tật đó không thay đổi. Khoảng 10 năm 2022 bà H có gửi đơn yêu cầu ly hôn tại Tòa án huyện Dầu Tiếng, sau đó ông L năn nỉ hứa thay đổi, vì nghĩ đến hai đứa con muốn cho ông L cơ hội để thay đổi nên bà H đã rút đơn về. Nhưng sau đó ông L không thay đổi, mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, cuộc sống hôn nhân vô cùng ngột ngạt. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.

- Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông L có 02 người con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 11/02/2015 và Nguyễn Vân A, sinh ngày 20/3/2017. Theo đơn khởi kiện bà H yêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Vân A, sinh ngày 20/3/2017 và giao con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 11/02/2015 cho ông L nuôi dưỡng; không bên nào cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà H thay đổi yêu cầu, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 11/02/2015 và giao con chung tên Nguyễn Vân A, sinh ngày 20/3/2017 cho ông L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bà H không có ý kiến gì khác.

* Bị đơn ông Nguyễn Thanh L:

Trong quá trình tố tụng để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho ông Nguyễn Thanh L biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Tòa án không thu thập được ý kiến của bị đơn ông L.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự thủ tục, người tham gia tố tụng đúng thành phần. Phiên tòa được tiến hành đúng trình tự. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng là đã tự từ bỏ quyền lợi của mình.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa cho thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Đặng Thị H khởi kiện ông Nguyễn Thanh L về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Ông L có nơi cư trú tại ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông L được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng ông L theo Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn (bà H).

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông L chung sống với nhau từ năm 2014, hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 02/7/2014. Do đó đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẫn hôn nhân: Bà H cho rằng bà và ông L thường bất đồng quan điểm sống, hay cãi vã nhau, cuộc sống hôn nhân không còn tình cảm, không có hạnh phúc. Vì vậy, bà H làm đơn xin ly hôn với ông L. Trước yêu cầu xin ly hôn của bà H thì Tòa án đã tiến hành triệu tập ông L nhiều lần đến Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông L từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án với lý do bà H muốn làm gì thì làm, ông L vẫn không có mặt, điều này cho thấy ông L không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững, thế nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà H và ông L không đạt được những điều đó. Nên yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà H và ông L có 02 người con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 11/02/2015 và Nguyễn Vân A, sinh ngày 20/3/2017. Theo đơn khởi kiện bà H yêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Vân A, sinh ngày 20/3/2017 và giao con chung tên Nguyễn Hoàng , sinh ngày 11/02/2015 cho ông L nuôi dưỡng; không bên nào cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà H thay đổi yêu cầu, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 11/02/2015 và giao con chung tên Nguyễn Vân A, sinh ngày 20/3/2017 cho ông L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; không bên nào cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác theo biên bản từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án ông L cũng thể hiện ý kiến muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Vân A, sinh ngày 20/3/2017. Vì vậy yêu cầu của bà H là có cơ sở chấp nhận.

Tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu nên không xem xét.

Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào các Điều 9, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị H đối với ông Nguyễn Thanh L về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.

2. Về con chung: Giao cho bà Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 11/02/2015; giao cho ông Nguyễn Thanh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Vân A, sinh ngày 20/3/2017; không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí: Bà Đặng Thị H chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0009068 ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

5. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/8/2023).

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ