- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Trương Đức Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN CẨM THỦY Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày 18/04/2023 V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THỦY - TỈNH THANH HÓA
Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Huy Phương
2. Ông Lê Đình Thọ
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân - Thư ký TAND huyện Cẩm Thủy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thủy tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Cẩm Nhung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 04 năm 2023, tại Hội trường xét xử TAND huyện Cẩm Thủy, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân thụ lý số 13/2023/TLST-HNGĐ ngày
“ 15 tháng 02 năm 2023 về việc Ly hôn và nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 03 năm 2023.
Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trương Đức Th - Sinh năm 1989
HKTT: Thôn TTL, xã CV, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Chị Lữ Thị N - Sinh năm 1997
HKTT: Thôn TTL, xã CV, huyện Cẩm Thủy, tỉnhThanh Hóa.
Đang ở tại địa chỉ: Thôn TC, xã TT, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt anh Th, chị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trương ĐứcTh trình bày: Anh và chị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu trước và tổ chức cưới theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã Thọ Thanh, huyện Thường Xuân vào ngày 8 tháng 3 năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc tại gia đình nhà chồng ở xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thủy. Đến cuối năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về tính nết, không tìm được tiếng nói chung, không quan tâm đến nhau, tình cảm phai nhạt.
Do mâu thuẫn trầm trọng nên từ tháng 01 năm 2023 chị N đã đưa 2 con về nhà mẹ đẻ ở Thường Xuân sinh sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên anh xin được ly hôn chị N.
Về con chung: Anh và chị N có hai con chung là Trương Huyền Thương - Sinh ngày 06/07/2017 và Trương Đức Duy - Sinh ngày 08/02/2022.
Anh Th đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Huyền Thương còn chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Đức Duy đến tuổi thành niên. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Chị Lữ Thị N cũng trình bày Chị và anh Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện tiến bộ, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thọ Thanh, huyện thường Xuân. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung cùng với bố mẹ anh Th. Vợ chồng cũng thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Th đi làm ăn xa, không quan tâm đến vợ con. Vì ở chung với bố mẹ anh Th nên thi thoảng cũng xảy ra mâu thuẫn gia đình. Vào tháng 01 năm 2023 bố anh Th chửi bới chị nên chị đã đưa cả hai con về bên nhà bố mẹ đẻ của chị ở (xã Thọ Thanh, huyện Thường Xuân). Nay anh Th làm đơn xin ly hôn chị hoàn toàn nhất trí.
Về con chung chị thống nhất như anh Th trình bày có 2 con chung. Nhưng chị có nguyện vọng xin được nuôi cả hai con, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thủy: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 4 điều 147, điều 273 BLTTDS; Khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/201/UBTVQH 14 của UBTV Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Về Hôn nhân: Đề nghị xử cho anh Th được ly hôn chị N.
Về con chung: Đề nghị giao cháu Trương Huyền Thương cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên; giao cháu Trương Đức Duy cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã đực xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào các quy định của pháp luật Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn anh Trương Đức Th làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn là chị Lữ Thị N có hộ khẩu thường trú tại: Thôn TTL, xã CV, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về “Ly hôn và nuôi con chung” được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về Hôn nhân: Anh Th và chị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thọ Thanh, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Trong quá trình chung sống anh Th và chị N phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã phải sống ly thân nhau.
Vì vậy cần áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân gia đình xử cho anh Trương Đức Th được ly hôn chị Lữ Thị N là phù hợp.
Về con chung: Anh Th và chị N có hai con chung là Trương Huyền Thương - Sinh ngày 06/07 /2017 và Trương Đức Duy - Sinh ngày 08/02/2022.
Anh Th đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Huyền Thương còn chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Đức Duy, không ai phải đóng góp phí tổn nuôi con chung. Chị N đề nghị được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy: Anh Th có công ăn việc làm và thu nhập ổn định (có bảng xác nhận thu nhập và hợp đồng công việc). Các cháu Trương Huyền Thương và Trương Đức Duy lâu nay cũng đã quen cuộc sống ở bên nội. Vì vậy nên giao cháu cháu Trương Huyền Thương sinh ngày 06/07/2017 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Còn cháu Trương Đức Duy - Sinh ngày 08/02/2022, đang còn rất nhỏ (dưới 36 tháng tuổi) nên giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Anh Th và chị N mỗi người nuôi một con chung và không ai có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Tòa án không xem xét việc này.
Về tài sản chung: Anh Th và chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Anh Th phải chịu 300.000đồng án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 4 điều 147, điều 273 BLTTDS; Khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/201/UBTVQH 14 của UBTV Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Trương Đức Th.
Xử cho anh Trương Đức Th được ly hôn chị Lữ Thị N.
Về con chung: Giao cháu Trương Huyền Thương - Sinh ngày 06/07/2017 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Giao cháu Trương Đức Duy - Sinh ngày 08/02/2022 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Anh Th và chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của các con, các bên đương sự có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Các bên đương sự thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh Th phải chịu 300.000đồng án phí DSST được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng anh đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/ 0010444 ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cẩm Thủy.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H. Cẩm Thủy; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Sơn |