- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, yêu cầu nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Lê Thành S. Chị L được ly hôn với anh S.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-03-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tháo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đào Thị Tuyết Mai.
Bà Phạm Thị Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Ngày 30 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 502/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXX-ST ngày 22 tháng 02 năm 2023 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1977 (Vắng mặt do có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 4, xã TH, huyện BĐ, tỉnh BT.
- Bị đơn: Anh Lê Thành S, sinh năm 1974 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 4, xã TH, huyện BĐ, tỉnh BT.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2022 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và anh S chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2002 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã Tam Hiệp. Quá trình chung sống có hạnh phúc, đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Từ đó vợ chồng không thể hàn gắn lại được. Chị và anh S sống ly thân từ giữa năm 2022 đến nay. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Có hai con chung là Lê Đông Vũ, sinh ngày 04/6/1997 và Lê Đông Bảo, sinh ngày 05/04/2002, cả hai đều đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Anh Lê Thành S vắng mặt nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại. Chị Nguyễn Thị L vắng mặt do có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và anh Lê Thành S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng không có lý do. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt anh S là phù hợp với Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Thành S chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2002, trên tinh thần tự nguyên và có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân được chị L cho là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Từ đó vợ chồng không thể hàn gắn lại được. Chị và anh S sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Từ lúc ly thân nhau cho đến nay mỗi người đều có cuộc sống độc lập, không ai quan tâm đến ai, Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để chị L và anh S đoàn tụ nhưng anh S vắng mặt, anh S có ý thức bỏ mặc hôn nhân giữa anh và chị L. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân giữa chị L và anh S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Có hai con chung là Lê Đông V, sinh ngày 04/6/1997 và Lê Đông B, sinh ngày 05/04/2002, cả hai đều đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L khai không có nên không xét đến.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Lê Thành S. Chị L được ly hôn với anh S.
Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh S chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Có hai con chung là Lê Đông V, sinh ngày 04/6/1997 và Lê Đông B, sinh ngày 05/04/2002, cả hai đều đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
3. Về tài sản chung: Chị L khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
4. Về nợ chung: Chị L khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
5. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010210 ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại. Vậy, án phí chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ.
Chị L, anh S vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Bình Đại; - Chi cục THA huyện Bình Đại; - UBND xã Tam Hiệp; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Tháo |