- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Minh P và Đỗ Văn T"
- Tòa quyết gì? Chị Nguyễn Thị Minh P được ly hôn anh Đỗ Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày 31-7-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thắng;
Ông Vũ Văn Thôn.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Minh Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2023/TLST- HNGĐ, ngày 04 tháng 4 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 613/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh P, nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Bị đơn: Anh Đỗ Văn T, nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 02 năm 2023 và các bản tự khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh P trình bày:
Chị và anh Đỗ Văn T kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quang Trung, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng ngày 28 tháng 12 năm 2021. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận thời gian đầu sau phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh T không chung thuỷ và có hành vi bạo lực đối với chị P. Đến tháng 11 năm 2022, vợ chồng ly thân đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị P xác định không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Văn T. Về con chung: chị và anh T có 01 con chung là Đỗ Kim N, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2022. Ly hôn chị P đề nghị được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đỗ Văn T tại bản tự khai, biên bản hoà giải có ý kiến như sau: Anh thừa nhận chị P trình bày về điều kiện kết hôn, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung là đúng. Tuy nhiên, về mâu thuẫn vợ chồng không đúng, mâu thuẫn vợ chồng do chị P ghen tuông và có những lời lẽ xúc phạm coi thường anh và gia đình anh. Anh xác định vẫn còn tình cảm với chị P nên anh không đồng ý ly hôn và đề nghị được đoàn tụ. Về con chung, anh T đồng ý để chị P nuôi con. Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh P, bị đơn anh Đỗ Văn T đã cơ bản tuân thủ đúng các điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị Nguyễn Thị Minh P được ly hôn anh Đỗ Văn T; về con chung: Giao con Đỗ Kim N, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2022 cho chị Nguyễn Thị Minh P nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T.Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Minh P có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh Đỗ Văn T. Anh Đỗ Văn T, địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn T kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quang Trung, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng ngày 28 tháng 12 năm 2021 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận thời gian đầu sau phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính do anh T không chung thuỷ và có hành vi bạo lực đối với chị P. Đến tháng 11 năm 2022, vợ chồng ly thân đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Tuy nhiên, anh T khẳng định mâu thuẫn vợ chồng do chị P ghen tuông và có những lời lẽ xúc phạm, coi thường anh và gia đình anh. Anh xác định vẫn còn tình cảm với chị P nên anh không đồng ý ly hôn và đề nghị được đoàn tụ. Tuy anh T mong muốn đoàn tụ nhưng không có biện pháp nào động viên chị P quay về chung sống. Qua xác minh tại địa phương và gia đình đều xác nhận mâu thuẫn giữa anh, chị do vợ chồng còn trẻ nên không bảo ban được nhau, không tin tưởng nhau dẫn đến cãi vã, xô sát và sống ly thân. Tình trạng mâu thuẫn giữa anh, chị đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị P có đơn xin ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Minh P và anh Đỗ Văn T có 01 con chung là Đỗ Kim N, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2022. Ly hôn chị P đề nghị được nuôi con, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đỗ Văn T đồng ý với chị P về vấn đề con chung. Xét, cháu N chưa tròn 36 tháng tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi…”. Bên cạnh đó, từ khi anh chị ly thân đến nay cháu N sống cùng mẹ, chị P là công nhân có thu nhập 10 triệu đồng/ tháng và có chỗ ở ổn định. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con Đỗ Kim N, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2022 cho chị Nguyễn Thị Minh P nuôi dưỡng là phù hợp. Chị P không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 235 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chị Nguyễn Thị Minh P được ly hôn anh Đỗ Văn T.
2. Về con chung: Giao con Đỗ Kim N, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2022 cho chị Nguyễn Thị Minh P nuôi dưỡng nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh P phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Minh P đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001480 ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Minh P đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị Minh P và anh Đỗ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hải Phòng; - VKSND huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Các đương sự; - UBND xã Quang Trung; - Lưu: Hồ sơ; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |