- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị K - Lin Shih H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10/4/2023 V/v "Tranh chấp ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trần Hiếu
Ông Hồ Hoàng Diệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 87/2022/TLST-HN ngày 26 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị K, sinh năm 1988. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 00, khu vực Q, phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Lin Shih H, sinh năm 1973. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 00, lộ H, khóm 01, phường H, khu Đ, thành phố Tân Bắc, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 29/4/2022 và bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị K trình bày và yêu cầu:
Bà và ông Lin Shih H quen biết nhau qua mai mối, tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) ngày 14/11/2019. Sau khi kết hôn, ông Lin Shih H về Đài Loan và đến 20/11/2020 bà cũng sang Đài Loan chung sống cùng với ông Lin Shih H. Thời gian chung sống hạnh phúc không được bao lâu thì đến 04/8/2021 bà ra ở riêng, không còn chung sống với ông Lin Shih H, đến ngày 23/3/2022 thì bà trở về Việt Nam, sau đó thì hai người không còn liên lạc gì với nhau. Mặc dù, bà cũng muốn hàn gắn tình cảm, nhưng không có kết quả. Vì vậy, bà xin được ly hôn với ông Lin Shih H.
Về con chung, tài sản và nợ chung: Bà và ông Lin Shih H không có con chung, không tạo lập được tài sản chung, nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lin Shih H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về việc Bà K xin ly hôn với ông.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua xem xét các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Lê Thị K được ly hôn với ông Lin Shih H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Lê Thị K khởi kiện xin ly hôn với ông Lin Shih H cư trú tại Đài Loan, căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Bà K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Lin Shih H đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt (thủ tục thông báo, tống đạt của Tòa án đối với phía bị đơn đã hoàn tất, tại văn bản số 1110063504 ngày 22/11/2022 của Bộ Tư Pháp Lãnh thổ Đài Loan: "Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 14/10/2022 bằng phương thức: Gởi hồ sơ ủy thác tư pháp tại đồng công an”. Tuy nhiên cho đến thời điểm xét xử, ông Lin Shih H cũng không có ý kiến phản hồi. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là có căn cứ.
Về hôn nhân: Bà Lê Thị K và ông Lin Shih H xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 412 ngày 14/11/2019 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo Bà K trình bày, sau khi kết hôn, ông Lin Shih H về Đài Loan và đến 20/11/2020 thì bà cũng sang Đài Loan chung sống với ông Lin Shih H, nhưng hạnh phúc không được bao lâu thì đến 04/8/2021 bà ra ở riêng, không còn chung sống với ông Lin Shih H. Đến ngày 23/3/2022 thì bà trở về Việt Nam và không còn liên lạc gì với ông Lin Shih H.
Xét thấy, giữa Bà K và ông Lin Shih H sau khi kết hôn có thời gian chung sống ở Đài Loan nhưng từ khi Bà K trở về Việt Nam thì ông Lin Shih H vẫn ở Đài Loan, hai người sống ly thân, không quan tâm, liên lạc gì với nhau, không giữ gìn níu kéo quan hệ hôn nhân, tình cảm phai nhạt nên lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho Bà K được ly hôn với ông Lin Shih H là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Thị K trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác là 200.000 đồng, nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4, Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị K.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị K được ly hôn với ông Lin Shih H.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị K trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị K phải chịu 300.000 đồng, được chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng Bà Thị K đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000269 ngày 20/5/2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ sang án phí, Bà Thị K đã nộp đủ án phí.
3. Về lệ phí ủy thác: Bà Lê Thị K phải chịu, công nhận đã nộp xong 200.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000298 ngày 09/6/2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
4. Về quyền kháng cáo:
Bà Thị K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.
Ông Lin Shih H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TPCT; - Cục THA DS TPCT; - UBND quận Thốt Nốt; - Lưu hồ sơ vụ án | (Đã ký) Võ Bảo Anh |