- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC ̀ ́ P TỈNH ĐÔNG THA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/DS-ST Ngày: 09-8-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
́
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀ NH PHÔ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Đẹp
Ông Lê Nguyễn Minh Tùng
T ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh – T ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 108/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-DS ngày 04/7/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị U, sinh năm 1976 (Có mặt)
Địa chỉ: Số 381B, k 2, p 4, TP. SĐ, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Bà Cổ Thanh A T, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 6/16, k 1, p 4,TP.SĐ, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Trần Thị U trong quá trình Tòa án giải quyết và tại phiên tòa trình bày:
Thông qua giới thiệu của ông Trần Nhựt C (Tên Tờng gọi là ông Hai Rổ) có mối quan hệ là dượng của bà Cổ Thanh A T, nên bà U có chở gạch bán cho bà T xây nhà, cụ thể: Ngày 19/5/2021 bà U bán gạch số lượng 13.600 viên (gạch ống) x 1.100đ/viên = 14.960.000đ + 510.000đ (gạch mi, gạch thẻ), tổng cộng 15.470.000đ, bà T đã nhận và dùng xây nhà của bà T xong. Đến ngày 09/7/2022 bà T có trả cho bà Usố tiền 2.000.000đ, còn lại 13.470.000đ thì ngưng không trả nữa, bà U có đòi thì bà T hứa hẹn nhưng không trả. Do đó, bà U có làm đơn Thưa bà T ra UBND phường 4, thành phố Sa Đéc yêu cầu trả tiền. Khi UBND phường hòa giải thì bà T thừa nhận còn thiếu tiền mua gạch của bà U 13.470.000đ, UBND phường 4 lập biên bản hòa giải thành và cho bà T trả mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi hết nợ, nhưng sau đó bà T không thực hiện như đã thỏa thuận, không trả tiền cho bà U lần nào.
Nay bà Trần Thị U yêu cầu bà Cổ Thanh A T trả số tiền mua gạch còn thiếu 13.470.000đ (Mười ba triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng), không yêu cầu tính lãi.
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
* Đối với bị đơn bà Cổ Thanh A T mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà T nhận nhưng bà T không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, T ký phiên tòa thực hiê ̣n đúng theo quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự (BLTTDS). Đối với các đương sự bên nguyên đơn thực hiê ̣n đúng theo quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự; Đối với bị đơn không chấp hành triệu tập của Tòa án là chưa thực hiện đúng quy định của BLTTDS.
- Về quan điểm giải quyết vu ̣ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị U, buộc bị đơn bà Cổ Thanh A T trả số tiền mua gạch còn thiếu 13.470.000đ cho bà Trần Thị U.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền mua gạch xây nhà nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.
- Về thẩm quyền: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Địa chỉ cư trú của bị đơn tại thành phố Sa Đéc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, bà T tuy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có người đại diện tham gia phiên tòa. Bà Trần Thị U đồng ý và yêu cầu Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt bà T. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án:
Xét thấy, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý cho bà T nhận, tuy nhiên bà T không có văn bản trình bày ý kiến, cũng không đến tòa trong các lần Tòa án triệu tập hòa giải và xét xử mặc dù ký nhận giấy triệu tập của Tòa án. Như vậy, chứng minh bà T biết rõ việc bà Ukhởi kiện nhưng đã từ bỏ quyền lợi về việc cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Xét chứng cứ nguyên đơn giao nộp HĐXX thấy rằng:
Tại Tờ cam kết trả tiền mua gạch của bà T ngày 27/10/2022 gửi cho UBND phường 4, thành phố Sa Đéc có chữ ký và ghi họ tên của bà T có nội dung bà T thừa nhận nợ tiền mua gạch của bà U 13.470.000đ và hứa trả mỗi tháng 1.000.000đ.
Đối với Biên bản hòa giải ngày 27/10/2022 thì bà T có tham dự phiên hòa giải và có lời trình bày thừa nhận nợ tiền mua gạch của bà U 13.470.000đ và hứa trả mỗi tháng 1.000.000đ, do đó đã hòa giải thành có UBND phường 4 xác nhận.
Ngoài ra, qua làm việc đối với người làm chứng là ông Trần Nhưt C có mối quan hệ là dượng của bà T cũng xác định: bà T có nhờ ông C kêu dùm bà U bán gạch cho bà T xây nhà, và bà T hiện còn nợ tiền gạch của bà Út.
Như vậy, HĐXX thấy rằng các tình tiết trên đều liên quan và phù hợp với nhau nên xác định bà U thực tế có bán gạch cho bà T xây nhà và hiện bà T còn nợ tiền gạch của bà U13.470.000đ chưa trả.
Điều 430 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng mua bán tài sản:
“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.
………………”
Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả tiền:
“1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.
……………..”
Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà U, buộc bà Cổ Thanh A T trả cho bà Trần Thị U số tiền mua gạch còn thiếu 13.470.000đ (Mười ba triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng). Bà U không yêu cầu tính lãi nên HĐXX không xem xét.
Qua đó, xét đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) theo quy định pháp luật.
Vi cá c lẽ trên;
̀
́
QUYÊT ĐI ̣NH:
Căn cứ các điều 430, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngay 30-12-2016 của Ủ y Ban
̀ Tờ ng Vu ̣ Quốc Hô ̣i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị U.
Buộc bị đơn bà Cổ Thanh A T trả tiền mua gạch còn thiếu cho bà Usố tiền 13.470.000đ (Mười ba triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.
Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Cổ Thanh A T nộp 673.500đ án phí DSST.
Hoàn trả cho bà U nhận lại số tiền tạm ứng án phí 337.000đ theo biên lai số 0015204 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án thành phố Sa Đéc.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày hôm nay tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Tòa án Tỉnh; - Chi cục THADS TP Sa Đéc; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Trần Minh Trí |