vanban.org

Bản án 43/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 14/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “vận chuyển hàng cấm”;

Giao bị cáo Trần Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Phú A, huyện Cai L, tỉnh Tiền Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn M phạm tội Vận chuyển hàng Cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “vận chuyển hàng cấm”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HS-ST
Ngày 14-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Thanh Tân

Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước - Thư ký Tòa án

nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên

tòa: Bà Phan Thị Thanh Mộng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố VL, tỉnh

Vĩnh Long, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Văn M (tên gọi khác là Út), sinh năm 1972 tại tỉnh Tiền Giang; nơi

cư trú: Số 249 Ấp 6, xã Phú A, huyện Cai L, tỉnh TG; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm vườn; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1930 (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1928; vợ là Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1970; có 2 con, con lớn nhất 25 tuổi và con nhỏ nhất 17 tuổi; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 28/02/2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CL, tỉnh Tiền Giang xử phạt tiền 40.000.000 đồng theo Quyết định số: 06/QĐ-XPVPHC về hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2022 đến ngày 28/4/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Trần Thị L, sinh năm 1997; cư trú: Số 249 Ấp 6, xã Phú A, huyện CL,

tỉnh Tiền Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 45 phút ngày 05/3/2022 tại Km 2031 Quốc lộ 1A thuộc

phường Tân Ng, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Vĩnh Long kết hợp với Đội tuần tra, kiểm soát số 02 thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Vĩnh Long tiến hành dừng và kiểm tra xe ô tô Innova, nhãn hiệu Toyota mang biển số 63A-185.17 do bị cáo Trần Văn M điều khiển, phát hiện trên xe có 02 thùng giấy carton, kiểm tra bên trong thùng chứa thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng là 1.800 bao gồm: 200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero, 1.200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet và 400 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Scott. Qua điều tra, bị cáo M khai nhận:

Ngày 03/3/2022 bị cáo gặp anh Ngh1 tại quán cà phê Gia P trên đường Võ

Văn K, Phường A, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long, anh Ngh nói khi nào bị cáo có chuyến qua Vĩnh Long thì chở cho anh 02 thùng thuốc lá điếu nhập lậu, anh Ngh sẽ trả tiền công vận chuyển cho bị cáo là 600.000 đồng; địa điểm nhận hàng là gần BOT số 23 Quốc lộ 1A, thuộc địa phận huyện Cái B, tỉnh Tiền Giang, địa điểm giao hàng cho anh Ngh là gần cổng Khu du lịch Trường H thuộc địa phận phường Trường A, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo nói ngày 05/3/2022 có chuyến đi Cần Thơ sẽ chở cho Ngh.

Khoảng 07 giờ ngày 05/3/2022 bị cáo điều khiển xe ô tô Innova mang biển

số 63A-185.17 đến địa điểm giao hẹn gặp một người nam và một người nữ đưa hai thùng giấy carton lên xe. Sau đó, bị cáo điều khiển xe đến đến Km 2031, Quốc lộ 1A thuộc phường Tân Ng, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long thì bị lực lượng Công an kiểm tra xe và phát hiện bắt giữ.

Đối với người đàn ông tên Ngh sử dụng số điện thoại 0704932948 liên lạc

thuê bị cáo vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, qua xác minh người đứng tên đăng ký chủ thuê bao sim số điện thoại 0704932948 là ông Đỗ Chí Ng, sinh năm 1956, cư trú tại số 869/56 đường Trần Hưng Đ, Phường B, thành phố Vị Th, tỉnh Hậu Giang. Qua làm việc ông Ng cho biết ông không có đăng ký, sử dụng số điện thoại 0704932948 và cũng không có đưa giấy chứng minh nhân dân cho người khác để đăng ký sim điện thoại; ông không có quen biết với ai là Trần Văn M và người đàn ông tên Ngh. Do chưa xác định được nhân thân, lại lịch của người đàn ông tên Ngh và người nam, người nữ giao thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo vận chuyển, nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Về thu giữ, xử lý vật chứng:

- Quá trình điều tra đã thu giữ 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó có

200 bao nhãn hiệu Hero, 1.200 bao nhãn hiệu Jet, 400 bao nhãn hiệu Scott; 01 điện thoại Nokia màu đen và 01 điện thoại Vmart màu xanh2; 1 Là bạn ngoài xã hội, nhưng không biết địa chỉ cụ thể ở đâu. Hai điện thoại đều đã qua sử dụng.

- Đối với xe ô tô Innova, nhãn hiệu Toyota, biển số 63A-185.17 thuộc

quyền sở hữu là chị Trần Thị L, là con ruột của bị cáo, chị L giao xe cho bị cáo chạy dịch vụ nhằm tạo nguồn thu nhập cho gia đình; chị L không biết và không có căn cứ buộc chị phải biết việc bị cáo dùng xe để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố VL đã trả lại xe cho chị L.

Tại cáo trạng số: 32/CT-VKSTPVL ngày 26/5/2022 của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo Trần Văn M về tội: “vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa,

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VL giữ quyền công tố luận tội

và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và đề nghị xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “vận

chuyển hàng cấm”; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 32 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 6 đến 9 tháng tù và buộc bị cáo phải nộp phạt từ 10 đến 20 triệu đồng theo khoản 4 Điều 191 BLHS.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng

hình sự (BLTTHS) tịch thu tiêu hủy 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen;

Trả lại cho bị cáo Trần Văn M 01 điện thoại Vmart màu xanh.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo không có ý kiến bào chữa gì đối với luận tội

của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VL; chỉ xin Hội đồng xét xử chiếu cố đến hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải trực tiếp nuôi, chăm sóc mẹ là người già, yếu không đi lại được; cha bị cáo là người có công với Nước.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã thành khẩn nhận ra sai trái, ăn năn

hối cải, cam kết không tái phạm. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội để có điều kiện chăm sóc mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố

Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn M là phù hợp biên bản phạm tội

quả tang; phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ căn cứ để kết luận hành vi vận chuyển 1.800 bao thuốc lá điếu có nguồn gốc nhập lậu bị bắt quả tang vào lúc 08 giờ 45 phút ngày 05/3/2022 tại Km 2031 Quốc lộ 1A thuộc phường Tân Ng, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long của bị cáo Trần Văn M đã phạm tội: “vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 BLHS.

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, thuốc lá điếu có nguồn gốc sản

xuất từ nước ngoài là hàng hóa Nhà nước cấm buôn bán, vận chuyển hoặc tàng trữ; thuộc loại hàng hóa cấm nhập, cấm xuất. Do vậy, mọi hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu đều phải bị nghiêm trị.

Hành động phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến

chế độ độc quyền quản lý về hàng hóa của Nhà nước, đến trật tự quản lý kinh tế và an ninh kinh tế. Bị cáo vừa mới bị xử phạt hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm, nay lại tiếp tục vận chuyển hàng cấm cho thấy biện xử phạt hành chính phạt tiền chưa đủ tác dụng để ngăn đe bị cáo, nên đã tiếp tục vi phạm. Do đó, cần phải áp dụng hình nghiêm khắc hơn phạt tiền, mới đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và yêu cầu phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít

nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có cha là người có công với Nước. Xét tính chất, mức độ phạm tội bị cáo chỉ tương ứng ở đầu khung hình phạt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; thời gian tạm giam gần 02 tháng đã qua cũng đủ để giáo dục bị cáo, nên chưa cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 BLHS.

Buộc bị cáo phải nộp phạt 20.000.000 đồng theo khoản 4 Điều 191 BLHS.

- Về xử lý vật chứng, tài sản bị thu giữ:

1.800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero, Jet và Scott, là hàng cấm được tịch

thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Nokia màu đen là công cụ được bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Vmart màu xanh do không có liên quan đến vụ án theo quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ

thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “vận chuyển hàng cấm”;

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Văn M 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/7/2022.

Giao bị cáo Trần Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Phú A, huyện Cai L, tỉnh

Tiền Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm

nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 191 BLHS buộc bị cáo M

phải nộp phạt 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47

BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu3; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen, 2 sim số 0768.814.533 và 0766. 836.569; trả lại cho bị cáo Trần Văn M 01 điện thoại di động Vmart màu xanh, không gắn sim4.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS buộc

bị cáo Trần Văn M phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, báo cho

bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ