vanban.org

Bản án 43/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 10/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HSST
Ngày 10 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Bích Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Khưu Liên Dung

Bà Dư Thị Út

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: ông Mai Chí Nguyện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2022/HSST ngày 18 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2022/QĐXXST-HS ngày 13/5/2022 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Minh D (tên gọi khác: D.L); sinh năm 1986, tại: Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp thị trấn X, thị trấn H.B, huyện H.B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tám (chết) và bà Tô Thị Ánh (chết). Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt từ ngày 18/02/2022 đến nay (có mặt).

- Người bị hại: Anh Nguyễn Trường N (tên gọi khác: Tý), sinh năm 1988; thường trú: khóm Cái Nai, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau; tạm trú: phòng số 3, Nhà Trọ Như Ý, Khóm 5, Phường 7, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 18/02/2022, phòng số 3, Nhà Trọ N.Y Khóm X, Phường X, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, Nguyễn Minh D có hành vi lén lút lấy trộm một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, loại 64Gb; một túi đeo; một ví da và tiền Việt Nam 970.000 đồng. Qua định giá xác định tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 18.554.800 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSTPBL ngày 18/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Nguyễn Minh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điều 38 và các tình tiết giảm nhẹ tại điểm h và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai trái, đã hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và truy tố, những người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập đúng trình tự, thủ tục luật định. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, thể hiện bản thân bị cáo là người không có nghề nghiệp nên để có tiền tiêu xài, bị cáo đã lén lút đi tìm tài sản lấy trộm, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của anh Nguyễn Trường N để lấy trộm tài sản của anh N gồm: một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, loại 64Gb; một túi đeo; một ví da và tiền Việt Nam 970.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài sản thu hồi được và lời khai báo của người bị hại. Qua định giá Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐGTS, ngày 23/2/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định: “Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, loại 64GB, màu xanh, số IMEI: 3565594598027458 (đã qua sử dụng), có giá trị còn lại là 17.391.300 đồng. Một túi đeo chéo màu đen nhãn hiệu WEIXIER (đã qua sử dụng), có giá trị còn lại là 75.000 đồng. Một ví da màu đen không rõ nhãn hiệu, có giá trị còn lại là 75.000 đồng. Một ốp lưng nhựa dẻo màu trắng không rõ nhãn hiệu, có giá trị còn lại là 43.500 đồng”. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 18.554.800 đồng. Bị cáo thực hiện hành vi trộm tài sản trong trạng thái đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi ngay để trả lại cho người bị hại là thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng hình phạt cho bị cáo, xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mang tính phòng ngừa chấp chung trong xã hội.

[4] Về vật chứng trong vụ án: tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, ngoài ra quá trình điều tra không thu giữ tài sản gì của bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 200.000 đồng.

[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/02/2022.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Minh D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ