- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lã Văn C - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Lã Văn C 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội "Cướp giật tài sản". Tổng hợp với hình phạt 03 năm 06 tháng tù về tội "Đánh bạc" tại bản án Hình sự sơ thẩm số 13/2022/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP Về…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2022/HSST Ngày 26-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thu Lan
Bà Đặng Thị Minh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lương Đăng Bùi - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Minh Hiền - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Lã Văn C, (tên gọi khác: Lã Đức C) tại: Hải Phòng; Trú quán: Thôn B, xã L, huyện Vo, thành phố Hải Phòng, nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lã Văn T và con bà Đào Thị X; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: Bản án số 19/2009/HSST ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 năm tù về tội "Cướp tài sản" (đã được xóa án); Bản án số 22/2012/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2012 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 45 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản"; chấp hành án xong ngày 18 tháng 10 năm 2015 (chưa được xóa án). Nhân thân: Bản án số 13/2022/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội "Đánh bạc". Bị cáo Lã Văn C bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 10 năm 2020, tạm giam tại trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng từ ngày 11 tháng 5 năm 2022, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Đinh Thị Quỳnh A; trú quán: Số T, phường T, quận D, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1- Anh Lã Danh T;
2- Chị Bùi Thị Tú A;
3- Anh Lã Văn T;
4- Anh Lã Văn T1;
5- Anh Nguyễn Kim T
6- Anh Phạm Văn S;
7- Anh Phạm Văn V;
8- Anh Vũ Hữu T;
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Lã Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 17 giờ ngày 17 tháng 11 năm 2015 Lã Danh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16N7-4603 chở Lã Văn C đi trên đường 360 về hướng thị trấn Trường Sơn, huyện An Lão. Lã Văn C nói với Lã Danh T quay xe lại. Lã Danh T quay xe lại và hỏi Lã Văn C “Quay xe lại để làm gì” Lã Văn C nói: “Mày cứ đi đi rồi tao bảo”. Lã Danh T điều khiển xe đi về phía thị trấn An Lão được khoảng 50m thì Lã Văn C bảo với Lã Danh T để C điều khiển xe mô tô còn Lã Danh T ngồi sau. Lã Văn C chở Lã Danh T được một đoạn thì Lã Văn C nói với Lã Văn T: "Mày có nhìn thấy hai đứa con gái kia không?". Lã Danh T nhìn về phía trước thấy có hai người phụ nữ đi trên chiếc xe mô tô màu trắng biển kiểm soát 16R9-1873 đi phía trước do chị Đinh Thị Quỳnh A điều khiển chở chị Bùi Thị Tú A. Lã Danh T hỏi C: "Nhìn thấy để làm gì". Lã Văn C nói: "Mày có nhìn thấy chiếc túi xách không". Lã Danh T có nhìn thấy chiếc túi xách ở giữa hai người phụ nữ. Lã Danh T hỏi Lã Văn C: “Nhìn thấy rồi, để làm gì”. Lã Văn C nói: "Giờ mày chỉ cần giật chiếc túi xách đấy là xong”. Lã Danh T hiểu ý Cảnh bảo giật chiếc túi xách đó. Lã Danh T đồng ý và không nói gì. Lã Văn C điều khiển xe mô tô đuổi theo vượt lên áp sát bên trái xe mô tô của chị Đinh Thị Quỳnh A điều khiển. Khi hai xe mô tô song song nhau Lã Danh T ngồi sau dùng tay phải giật lấy chiếc túi xách chị Bùi Thị Tú A đang cầm để ở giữa chị Bùi Thị Tú A và chị Đinh Thị Quỳnh A. Sau đó Lã Văn C điều khiển xe bỏ chạy về hướng thị trấn An Lão, Lã Danh T đưa túi xách cho Lã Văn C để ở võng xe mô tô. Lã Văn C điều khiển xe mô tô về đến cổng trào xã An Tiến thì Lã Văn C dừng xe để Lã Danh T điều khiển xe chở Lã Văn C. Lã Văn C ngồi sau kiểm tra túi xách vừa chiếm đoạt được. Lã Danh T trở Lã Văn C đến khu vực cầu Rế thuộc địa phận huyện An Dương, Lã Văn C lấy 01 điện thoại và 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng) trong túi xách và vứt túi xách cùng tài sản còn lại tại khu vực cầu Rế. Lã Danh T chở Lã Văn C đến cửa hàng điện thoại di động của anh Vũ Hữu T bán chiếc điện thoại SONY M4 màu đen được 2.000.000đ (hai triệu đồng). Lã Văn C đưa cho Lã Danh T 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) nói là “Công đi làm” và 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng) để mua thức ăn. Sau đó Lã Danh T và Lã Văn C bỏ trốn.
Theo lời khai của chị Đinh Thị Quỳnh A là người bị hại trình bày: Tài sản trong túi xách gồm có: 01 điện thoại di động SONY M4 màu đen; 01 chiếc sạc điện thoại di động SONY M4 màu đen, loại sạc dây dài 80cm; 01 pin sạc dự phòng 10.000MAH nhãn hiệu Xiaomi MI 18W màu trắng, trên thân sạc có chữ "MI", 01 ví bằng vải, 01 áo khoác bằng dạ, số tiền 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng) và một số giấy tờ khác.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-ĐG ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện An Lão kết luận: 01 chiếc điện thoại di động SONY M4 trị giá 2.000.000đ; 01 túi xách màu đen chất liệu nilon trị giá 150.000đ; 01 áo khoác chất vải dạ trị giá 250.000đ; 01 ví bằng vải trị giá 50.000đ. Tổng cộng là 2.450.000đ (hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-ĐG ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện An Lão kết luận: 01 chiếc sạc điện thoại di động SONY M4 màu đen, loại sạc dây dài 80cm trị giá 150.000đ; 01 pin sạc dự phòng 10.000MAH nhãn hiệu Xiaomi MI 18W màu trắng, trên thân sạc có chữ "MI" trị giá 300.000đ. Tổng cộng là 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản Lã Văn C chiếm đoạt là 2.900.000đ (hai triệu chín trăm nghìn đồng).
Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16N7-4603 do Lã Danh T và Lã Văn C sử dụng là của ông Phạm Văn V. Công an huyện An Lão đã trả cho ông Phạm Văn V.
Đối với Vũ Hữu T có hành vi mua chiếc điện thoại của Lã Danh T và Lã Văn C nhưng Vũ Hữu T không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Công an huyện An Lão không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ngày 21 tháng 11 năm 2015 Lã Danh T đến Công an huyện An Lão đầu thú. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2016/HSST ngày 27 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện An Lão đã xử Lã Danh T 30 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999
Lã Văn C đã bỏ trốn Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão đã có quyết định truy nã. Ngày 03 tháng 10 năm 2020 Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bắt về hành vi "Đánh bạc". Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt Lã Văn C 03 năm 06 tháng tù về tội "Đánh bạc".
Bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão truy tố bị cáo Lã Văn C phạm tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lã Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão tại phiên tòa kết luận bị cáo Lã Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lã Văn C từ 42 tháng đến 48 tháng tù. Về bồi thường dân sự: Bị hại là chị Đinh Thị Quỳnh A đã nhận đủ tiền bồi thường nên không yêu cầu Lã Văn C bồi thường thêm khoản nào khác, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Bị cáo Lã Văn C phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai nhận của bị cáo Lã Văn C tại phiên toà phù hợp với lời khai của Lã Danh T, lời khai của bị hại; phù hợp với lời khai người làm chứng; bản kết luận kết luận định giá tài sản, cũng như tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lã Văn C cùng với Lã Danh T có hành vi dùng xe mô tô biển kiểm soát 16N7-4603 cướp giật một túi xách bên trong có 01 chiếc điện thoại di động; 01 áo khoác bằng dạ; 01 ví bằng vải; 01 chiếc sạc điện thoại di động SONY M4 màu đen, loại sạc dây dài 80cm; 01 pin sạc dự phòng 10.000MAH nhãn hiệu Xiaomi MI 18W màu trắng, trên thân sạc có chữ "MI"; số tiền là 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng) và một số giấy tờ cá nhân của chị Đinh Thị Quỳnh A đang điều khiển xe mô tô trên đường quốc lộ 10 thuộc địa phận xã An Tiến, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Theo bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-ĐG ngày 24 tháng 11 năm 2015 và số 21/KL-ĐG ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện An Lão kết luận: Tổng giá trị tài sản là 2.900.000đ (Hai triệu chín trăm nghìn đồng). Như vậy hành vi của bị cáo Lã Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999.
Bị cáo Lã Văn C dùng xe mô tô biển kiểm soát 16N7-4603 cướp giật tài sản của chị Đinh Thị Quỳnh A đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16R9-1873 trên đường nên căn cứ điểm 5.3 mục 5 phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp thì hành vi của bị cáo Lã Văn C được coi là "dùng thủ đoạn nguy hiểm"; Bị cáo Lê Văn Cảnh bị Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 45 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự tại bản án số 22/2012/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2012 là tội rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích, Bị cáo Lã Văn C phạm tội lần này vào ngày 17 tháng 11 năm 2015 về hành vi "Cướp giật tài sản" là tội rất nghiêm trọng do cố ý. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 bị cáo Lã Văn C phạm tội lần này là "Tái phạm nguy hiểm". Do vậy bị cáo Lã Văn C đã phạm vào tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do điều luật của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức hình phạt như Điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội thì Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão truy tố bị cáo Lã Văn C về tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp pháp luật
Xét hành vi của bị cáo Lã Văn C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy phải xử lý thật nghiêm và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
Xét đây là vụ án có đồng phạm. Đối với Lã Văn C là người trực tiếp ru rê Lã Danh T và cũng là người điều khiển xe mô tô để Lã Danh T thực hiện hành vi giật tài sản của chị Đinh Thị Quỳnh A.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lã Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vị phạm tội của mình; bị hại là chị Đinh Thị Quỳnh A có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lã Văn C căn cứ điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Do vậy xử phạt bị cáo Lã Văn C mức án như Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão đề nghị tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa chung.
Bị cáo Lã Văn C sau khi phạm tội vào ngày 17 tháng 11 năm 2015 bị cáo Lã Văn C bỏ trốn, Ngày 03 tháng 10 năm 2020 Lã Văn C bị Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bắt về hành vi "Đánh bạc". Tại bản án hình sự số 13/2022/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội "Đánh bạc". Bản án đã có hiệu lực và được thi hành. Căn cứ Điều 55, Điều 56 và Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo Lã Văn C.
Anh Vũ Hữu T là người mua chiếc điện thoại của Lã Văn C với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng). Chiếc điện thoại này đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại, anh Vũ Hữu T không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) Lã Văn C bán chiếc điện thoại của chị Đình Thị Quỳnh Anh mà có, Lã Văn C có đưa cho Lã Danh T 540.000đ (năm trăm bốn mươi nghìn đồng) còn lại 1.460.000đ (một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) Lã Văn C sử dụng. Xét đây là số tiền thu lợi bất chính nên áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Lã Văn C phải nộp lại để sung công quỹ Nhà nước.
Về bồi thường dân sự: Gia đình bị cáo Lã Danh T đã bồi thường số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), nay bị hại là chị Đinh Thị Quỳnh A không yêu cầu bị cáo Lã Văn C bồi thường thêm khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Lã Văn C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51: Điều 47; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 55; Điều 56 và Điều 104 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Xử phạt: Lã Văn C 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội "Cướp giật tài sản". Tổng hợp với hình phạt 03 năm 06 tháng tù về tội "Đánh bạc" tại bản án Hình sự sơ thẩm số 13/2022/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo Lã Văn C phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 10 năm 2020.
Buộc bị cáo Lã Văn C phải nộp số tiền 1.460.000đ (một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Lã Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lã Văn C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày tuyên án; bị hại là chị Đinh Thị Quỳnh A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hải Phòng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. Hải Phòng;
- PC10, PV06 Công an TP. Hải Phòng;
- Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
- VKSND huyện An Lão;
- Công an huyện An Lão;
- Chi cục THADS huyện An Lão
- Bị cáo; bị hại;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
Nguyễn Văn Hải
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
NguyÔn V¨n H¶i
| Nơi nhận: - TAND thµnh phè H¶i Phßng; - VKSND huyÖn An L·o; - C«ng an huyÖn An L·o; - Chi côc THA d©n sù huyÖn An L·o; - PC 27, PC 81 C«ng an TP H¶i Phßng; - BÞ c¸o; - L u hå s¬; - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |