vanban.org

Bản án 43/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Vũ Đăng K

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Minh Trường H và Tạ Ngọc T. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 118/2021/HSST ngày 18/11/2021của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu. Tuyên bố , bị cáo Đặng Minh Trường H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo Tạ Ngọc T phạm tộ i: “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Minh Trường H + đp - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Vũ Đăng K
  • Căn cứ chính? Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HSPT
Ngày: 24/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Trang

Các Thẩm phán:

Bà Phan Thị Thu Hương

Ông Nguyễn Trung Hưng

- Thư ký phiên tòa:Ông Lê Huy Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:Bà Tống Thị Thu Hiền– Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 343/2021/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo Đặng Minh Trường H + đp, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 118/2021/HSST ngày 18/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Đặng Minh Trường H, sinh năm 1988 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Tổ 9, ấp 1, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Viết K, sinh năm 1962 (đã chết) và con bà Vũ Thị D, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; có vợ tên Đặng Ngọc C, sinh năm 1992; có một con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 14/6/2021, chuyển tạm giam theo Lệnh số: 2218/L ngày 14/6/2021. Hủy bỏ tạm giam ngày 10/8/2021, hiện bị cáo tại ngoại.

2. Vũ Đăng K, sinh năm 1992 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Khu phố 7, thị trấn A, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh;Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đăng K, sinh năm 1959 và con bà Giang Thị H, sinh năm 1962; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất trong gia đình và chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 27/3/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chấp hành xong án phạt tù ngày 29/4/2020; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2021 đến 30/3/2021; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 715/L-ĐCSHS-KTMT ngày 30/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu.

3. Tạ Ngọc T, sinh ngày 23 tháng 7 năm 1980, tại tỉnh Bình Dương; Hộ khẩu thường trú: 138/28, Nguyễn S, phường Q, quận P, thành phố Hồ Chí Minh; Hiện đang cư trú tại: khu phố 6, thị trấn A, huyện C, Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Văn T (đã chết) và con bà Phạm Thị Bích P, sinh năm 1956; Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ tên Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1982, có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 22/10/2004 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 năm tù về tội Giết người, chấp hành xong án hình sự, ra trại ngày 17/01/2009. (Giảm án 13 tháng, đặc xá); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2021 đến 30/3/2021; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 711/L- ĐCSHS-KTMT ngày 30/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 26/3/2021, K Hải Phòng, Đặng Minh Trường H và một thanh niên chưa rõ tên đến nhà Kim Thị C xin được đánh bạc phía sau chuồng gà. H và một số thanh niên đi ra phía sau chuồng gà đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc H phục vụ nước uống, khăn lạnh cho những người đánh bạc, đi chở hai người không rõ tên, địa chỉ và Hồ Quý Đ vào địa điểm đánh bạc và có nhận tiền xâu bỏ vào con heo đất.

Ban đầu, Tạ Ngọc T sử dụng 45.000.000.000 đồng làm cái đánh bạc với một số đối tượng (không rõ tên, địa chỉ) thua 40.000.000 đồng thì nghỉ không làm cái. Khoảng 15 giờ cùng ngày, đối tượng T đến làm cái, Lê Vũ Hồng S phụ T lắc cái đánh bạc với Tạ Ngọc T, Hỷ Cón N, Nguyễn Tấn T, Vũ Đăng K, Vòng Vĩnh B, Hồ Quý Đ, Hoàng Văn T.

Cách T đánh bạc bằng hình T “Tài xỉu” như sau: Người làm cái sử dụng 03 hột xí ngầu, mỗi hột có 06 mặt, mỗi mặt tương ứng số nút từ 01 đến 06. Sau đó, đặt 03 hột xí ngầu lên đĩa và dùng 01 nắp nhựa hình tròn đậy lại rồi lắc. Nếu tổng số nút của 03 hột xí ngầu có từ 03 đến 10 điểm gọi là “Xỉu”, từ 11 đến 18 gọi là “Tài”; nếu 03 hột xí ngầu có số nút giống nhau thì gọi là “Bão”. Nếu “Bão” có số nút của các hột xí ngầu là “1”, “2” hoặc “3” thì người làm cái sẽ ăn bên “Tài”. Nếu “Bão” mà số nút của các hột xí ngầu là “4”, “5” hoặc “6” thì người làm cái sẽ ăn bên “Xỉu” và không phải chi trả cho bên còn lại. Đặt trúng sẽ được thắng bạc bằng giá trị đã đặt, ngược lại sẽ thua tiền đã đặt cược. Mỗi ván người chơi đặt cược số tiền từ 200.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Kết thúc ván bạc tiền xâu được cho vào con heo gần chiếu bạc.

Đến 17 giờ cùng ngày C đi ra phía sau chuồng gà thấy có khoảng 20 người tụ tập và một số người đánh bạc nhưng không rõ bằng hình T gì và mức độ thắng thua, C bỏ đi vào nhà, không có ý kiến ngăn cản và không trình báo vụ đánh bạc cho Cơ quan chức năng.

Đến 18 giờ 15 phút cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối tượng Tuấn chạy thoát. Số tiền thu được trên chiếu bạc là 84.000.000 đồng.

* Kết quả điều tra xác định số tiền của từng đối tượng sử dụng đánh bạc cụ thể như sau:

Tạ Ngọc T sử dụng 45.000.000.000 đồng làm cái đánh bạc thua 40.000.000 đồng thì nghỉ không làm cái. Khi đối tượng T và Lê Vũ Hồng S lắc cái, Tạ Ngọc T sử dụng 5.000.000 đồng còn lại tiếp tục tham gia đánh bạc, bị thua bạc, nghỉ trước khi bị Công an bắt quả tang, bị thu giữ 2.200.000 đồng.

Vũ Đăng K mang theo 11.650.000 đồng sử dụng đánh bạc, thua 400.000 đồng, còn 11.250.000 đồng bị thu giữ;

Ngoài ra, còn một số bị cáo và các đối tượng khác.

* Các đối tượng khai báo sòng bạc do K Hải Phòng trú khu phố 7 thị trấn A tổ chức và thu xâu. Kết quả xác minh đối tượng K Hải Phòng có tên Bùi Văn K, sinh năm 1987, trú thôn L, xã P, huyện B, Thành phố Hải Phòng hiện không có mặt ở địa phương.Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.

Đặng Minh Trường H khai Phan Thị H là người tổ chức đánh bạc, thu tiền xâu nhưng H không thừa nhận. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục xác minh, làm rõ.

Đối với Lê Vũ Hồng S theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 389/KL-VPYTW ngày 31/5/2021 của tập thể giám định viên Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa thì tại thời điểm gây án: Đương sự bị mất khả năng điều khiển hành vi nên không pH chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 21 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 118/2021/HSST ngày 18/11/2021của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu quyết định:

Tuyên bố , bị cáo Đặng Minh Trường H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” các bị cáo Vũ Đăng K, Hỷ Cón N, Hồ Quý Đ, Vòng Vĩnh B, Nguyễn Tấn T, Kim Thị C, Tạ Ngọc T và Hoàng Văn T phạm tộ i: “Đánh bạc”.

* Áp dụng điểm b, khoản 2 Điề u 322; điể m s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 58 của của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điề u 262; Điề u 331; Điề u 333; Điề u 336; Điề u 337 của Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự .

Xử phạt bị cáo Đặng Minh Trường H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (được trừ đi thời gian tạm giam giữ từ ngày 14/6/2021 đến ngày 10/8/2021).

* Áp dụng điểm b, khoản 2 Điề u 321; điể m s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 58; điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điề u 262; Điề u 331; Điề u 333; Điề u 336; Điề u 337 của Bộ luậ t tố tụ ng hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Đăng K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (được trừ đi những ngày tạm giữ từ ngày 27/3/2021 đến 30/3/2021).

* Áp dụng khoả n 1 Điề u 321; điể m s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 58của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điề u 262; Điề u 331; Điề u 333; Điề u 336; Điề u 337 của Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự .

- Xử phạt bị cáo Tạ Ngọc T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (được trừ đi những ngày tạm giữ từ ngày 27/3/2021 đến 30/3/2021).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt bị cáo Hỷ Cón N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Hồ Quý Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Xử phạt bị cáo Vòng Vĩnh B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Kim Thị C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 03 (ba) tháng tù

Án sơ thẩm cũng còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 09/11/2021, các bị cáo Đặng Minh Trường H, Vũ Đăng K và Tạ Ngọc T kháng cáo xin được hưởng án treo.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Toà án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt bị cáo Đặng Minh Trường H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt bị cáo Vũ Đăng K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, xử phạt bị cáo Tạ Ngọc T 09 (chín) tháng tù về tộ i: “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo Vũ Đăng K có đơn xin rút kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo K. Bị cáo H và bị cáo T kháng cáo xin hưởng án treo và có nộp chứng cứ mới tại cấp phúc thẩm là xác nhận của địa phương về việc các bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận được đơn xin rút kháng cáo và xin vắng mặt tại phiên tòa của bị cáo Vũ Đăng K. Xét thấy đơn xin rút kháng cáo của bị cáo K là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo K theo Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đồng thời xét xử vụ án vắng mặt bị cáo K theo Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo H và bị cáo T: tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Trong vụ án này, bị cáo Đặng Minh Trường H phạm tội với vai trò giúp sức cho Bùi Văn K (K Hải Phòng) trong việc tổ chức đánh bạc, cụ thể bị cáo đã cùng với K đi tìm địa điểm để tổ chức đánh bạc, phục vụ nước uống khăn lạnh cho những người tham gia đánh bạc và chở một số người tới địa điểm đánh bạc. Trước thời điểm Công an đến kiểm tra, bị cáo đã về nhà. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp được các tình tiết mới như: bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được địa phương xác nhận trong thời gian tại ngoại luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo nên chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.

Đối với bị cáo Tạ Ngọc T: bị cáo đánh bạc với số tiền dưới 50.000.000đ và đã nghỉ đánh bạc trước khi bị bắt nên bị cáo bị truy tố, xét xử theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo không có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, tại cấp phúc thẩm cung cấp bổ sung các giấy tờ chứng minh gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính, là trụ cột trong gia đình. Do đó, hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết xử phạt tù đối với bị cáo, chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

Về án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáokhông pH chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 điều 355, 357, 348, 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Vũ Đăng K

2. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Minh Trường H và Tạ Ngọc T. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 118/2021/HSST ngày 18/11/2021của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

Tuyên bố , bị cáo Đặng Minh Trường H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo Tạ Ngọc T phạm tộ i: “Đánh bạc”.

* Áp dụng điểm b, khoản 2 Điề u 322; điể m s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; Điề u 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đặng Minh Trường H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Đặng Minh Trường H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

* Áp dụng khoản 1 Điề u 321; điể m s khoả n 1, khỏan 2 Điề u 51; Điề u 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Tạ Ngọc T 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Tạ Ngọc T cho Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện C, tỉnh Đồng Nai quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó pH chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Về án phí: các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ