vanban.org

Bản án 43/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kon Tum Tuyên án 22/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Trọng H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Trọng H tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Vi Văn Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Trọng Hiếu, Vi Văn Nhớ- Vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Trọng H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HS-ST
Ngày: 22/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Nguyên.

Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Lâm Duy Nhẫn – Cán bộ nghỉ hưu (nguyên là cán bộ Đoàn Thanh niên).

+ Ông Lê Văn Thương – Phó phòng Hành chính tổng hợp, Sở LĐTB và XH tỉnh Kon Tum.

+ Ông Nguyễn Văn Tiến – Phó Chi cục trưởng chi cục kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Kon Tum.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Duẩn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2022/TLST- HS ngày 21 tháng 10 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Đinh Trọng H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 22/7/1994 tại tỉnh P T; nơi ĐKHK thường trú: thôn Đ T, xã R K, huyện S T, tỉnh K T; Chỗ ở: Thôn Đ M, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn) 6/12; Dân tộc: M; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1973 và bà Đinh Thị H (đã chết); Bị cáo chưa có vợ con; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 02 anh em; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 17/7/2014 có hành vi cố ý gây thương tích tại huyện Đ B, tỉnh Hoà Bình bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B ra Quyết định khởi tố vụ án,

- 1 -

khởi tố bị can khoản 1 điều 104 Bộ luật hình sự. Quyết đình chỉ vụ án số 107/KSĐT ngày 24/10/2014, Quyết định đình vụ án đối với bị can số:108/KSĐT ngày 24/10/2014 với lý do người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố.

- Ngày 07/5/2017 có hành vi Cưỡng đoạt tài sản tại huyện S T, tỉnh Kon Tum. Ngày 23/11/2017 bị Toà án nhân dân huyện S T, tỉnh K T tuyên phạt 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 24/3/2019, Đinh Trọng H đã chấp hành xong hình phạt của bản án trên và trở về địa phương sinh sống.

- Ngày 02/12/2020 có hành vi Chống người thi hành công vụ tại xã R K, huyện S Th tỉnh Kon Tum bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S T ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội: Chống người thi hành công vụ, sau đó bị can bỏ trốn nên bị truy nã theo Quyết định số: 01/QĐTNBC ngày 01/02/2021. Đến ngày 09/5/2022 bị bắt về hành vi Vận chuyển trái phép chất ma tuý tại xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện S Th, tỉnh K T đã xử phạt Đinh Trọng H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2022 cho đến nay. Có mặt.

+ Vi Văn Nh, tên gọi khác: Không; sinh ngày 12/02/1987 tại tỉnh B Gi; nơi cư trú: Th M T, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T. Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn) 5/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn Nh, sinh năm 1954 và bà Hứa Thị K, sinh năm 1955; Bị cáo có vợ tên Y S, sinh năm 1992 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2015, bị cáo là con thứ 7 trong gia đình có 09 anh em. Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 27/3/2022 bị Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế B Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính: 04 triệu đồng về hành vi “Cư dân biên giới qua lại biên giới không đúng pháp luật”(chưa được xoá).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2022 cho đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Trọng H: Bà Phạm Công Anh Th - Luật sư của Văn phòng luật sư A Ngh và cộng sự, thuộc đoàn luật sư tỉnh Kon Tum. Địa chỉ: Số 52 Bà Triệu, phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Lưu Văn Qu, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn M T, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Thanh Ngh, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn M T, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Cháu Y V, sinh năm 2005. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người giám hộ của cháu Y V: Ông A T. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- 2 -

Nơi cư trú: Cùng trú tại thôn Kon H’ Ng K T, xã V Q, thành phố K T, tỉnh K T.

- Người chứng kiến: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn T K, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng ngày 06/05/2022, có người tên A Th (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại cho Đinh Trọng H, thuê Hi mang số ma túy mà A Th cất giấu trong lô cao su thuộc thôn M T, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T và A Th có chỉ vị trí nơi cất giấu ma túy cho H biết để H mang ma túy đi giao cho 01 (một) người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), lấy tiền công 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng), A Th nói với H, sau ba ngày vào buổi chiều tối H gọi điện vào số điện thoại của người nhận ma túy sẽ có người lấy, A Th đưa số điện thoại người nhận ma túy cho H ( 0828787223) , để H liên lạc lựa chọn vị trí giao ma túy. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/05/2022, H đi đến nhà Nguyễn Thanh Ng trú tại: thôn M T, xã Pờ Y, huyện Ng H, tỉnh K T để mượn xe máy của Ngh ( xe hiệu Sirius màu đỏ biển số: 98L9-40.662) nói đi công việc và rủ Ngh đi nhậu thì Ngh đồng ý. H chở Nghiệp ra quán nhậu vỉa hè thuộc thôn M T, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T và sau đó H nói với Ngh, để H ra chở Vi Văn Nh đến nhậu cùng cho vui. Sau đó H lấy xe máy của Ngh đi ra lô cao su thuộc thôn M T, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T nơi mà A Th chỉ vị trí giấu ma túy và lấy gói ma túy mang lên nghĩa trang thuộc thôn T K, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T để cất giấu. Sau đó H, lấy điện thoại gọi đến số điện thoại của người nhận ma túy mà A Th đưa cho H, thì được biết đó là 01 (một) người đàn ông ở G L (không rõ nhân thân, lai lịch), H nói: “Em là người mà anh Thao đưa số điện thoại cho”, người đàn ông G L nói: “Biết rồi nhưng mà chưa tới”, H nói với người đàn ông ở G L là đi đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn T K, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T để nhận ma túy. Sau đó khoảng 20 phút, H đi qua nhà Vi Văn Nh, rủ Nh qua quán vỉa hè thuộc thôn M T, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T để nhậu, Nh đồng ý và Hi chở Nhớ ra quán có Ngh ngồi đó. Nhậu được khoảng 10 phút, người đàn ông ở G L gọi điện thoại lại cho H và nói “Anh tới rồi”, nghe xong điện thoại H lấy xe máy của Ngh chở Nhớ tới nghĩa trang thuộc thôn T K, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T. Hiếu nói Nhớ về chở anh Ngh và tính tiền nhậu. Còn H đi bộ vào nghĩa trang để gặp người đàn ông ở G L đang chờ sẵn, H gặp người đàn ông G L nói chuyện một lúc và lấy ít ma túy cho người đàn ông đó thử. Người đàn ông G L thử xong thì không đồng ý nhận gói ma túy và yêu cầu đổi hàng khác. Cùng thời điểm này, Nghiệp chở Vi Văn Nh tới khu vực nghĩa trang Nh xuống xe, còn Ngh đi máy về nhà của mình. Nhớ đi lại khu vực chỗ H và người đàn ông G L, người đàn ông G L đưa số ma tuý vừa thử xong cho Nh rồi bỏ đi. Vi Văn Nh biết là ma tuý nên cất giấu trong túi áo khoác bên phải mục đích cất dấu để sử dụng. Ngay lúc này lực lượng chức năng tiến hành truy đuổi, bắt giữ Đinh Trọng H và Vi Văn Nh cùng tang vật về Đồn Biên phòng CKQT Bờ Y để

- 3 -

làm việc, đối với người đàn ông G L cơ quan chức năng truy đuổi nhưng không bắt được. Tiến hành kiểm tra người Vi Văn Nh, tổ công tác phát hiện tại túi áo khoác bên phải Nhớ đang mặc trên người có 01 (một) cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng nghi là ma tuý. Tiến hành kiểm tra túi ni lông màu đen bên trong có chứa 01 (một) túi ni lông không màu, bên trong túi ni lông không màu chứa 01 (một) túi ni lông màu xanh lá cây, bên trong túi ni lông màu xanh lá cây chứa 01 (một) túi ni lông không màu, bên trong túi ni lông không màu chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp dạng đá) để tại khu vực Nghĩa trang. Đinh Trọng H khai nhận chất rắn dạng tinh thể màu trắng trên là ma tuý tổng hợp dạng đá do H vận chuyển thuê cho 01 (một) người tên A Th (không rõ nhân thân, lai lịch) từ khu vực thôn Đ M, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn T K, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T giao cho 01 (một) người đàn ông ở G L (không rõ nhân thân, lai lịch) để lấy tiền công 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Đối tượng Vi Văn Nh khai nhận cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi áo khoác bên phải của Nhớ là ma tuý tổng hợp dạng đá đối tượng Nhớ cất giấu trong người mục đích để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tại bản kết luận giám định số 101/KL –KTHS ngày 12/05/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kon Tum, Kết luận: mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) là ma túy, có khối lượng: 783,56 gam là loại: Methamphetamine; Mẫu cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) là ma túy, có khối lượng: 0,957 gam, là loại: Methamphetamine.

Vật chứng đã thu giữ:

+ 01 (một) hộp bìa cát tông bằng giấy trắng và băng keo trong suốt, bên ngoài hộp có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 101/KLGĐ-KTHS”, tại các mép dán được dán 04 (bốn) giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong có các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KON TUM”.

+ 01 (một) điện thoại di động dạng phím bấm, nhãn hiệu NOKIA, màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng, chất lượng bên trong (đã niêm phong).

+ Đối với xe máy hiệu Sirius màu đỏ, biển kiểm soát: 98L9-40.662 là của Nguyễn Thanh Ngh, Ngh không biết mục đích H mượn đi làm việc gì nên cơ quan điều tra không thu giữ.

* Cáo trạng số 17/CT-VKSKT- P1 ngày 21/10/2022 đã truy tố bị cáo Đinh Trọng Hiếu về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản

- 4 -

4 Điều 250 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Vi Văn Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum phát biểu lời luận tội đối các bị cáo Đinh Trọng H và Vi Văn Nh như sau: giữ nguyên bản Cáo trạng đã truy tố; phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm mà các bị cáo đã gây ra. Đồng thời, đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Căn cứ Điều 39; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đinh Trọng H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Đinh Trọng H tù chung thân, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 09/10/2022).

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt tù chung thân của bán án này với hình phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HSST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện S Th, tỉnh Kon Tum. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 (hai) Bản án là tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/5/2022.

+ Căn cứ Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Vi Văn Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Vi Văn Nh từ 12 đến 18 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 09/10/2022).

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy còn lại sau khi giám định đựng trong 01 (một) hộp bìa cát tông bằng giấy trắng và băng keo trong suốt, bên ngoài hộp có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 101/KLGĐ-KTHS”, tại các mép dán được dán 04 (bốn) giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong có các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KON TUM”. - là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động dạng phím bấm, nhãn hiệu NOKIA, màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng, chất lượng bên trong (đã niêm phong)- là phương tiện phạm tội mà bị cáo dùng để liên hệ với các đối tượng nhằm vận chuyển trái phép chất ma túy.

- Đối với xe máy hiệu Sirius màu đỏ, biển kiểm soát: 98L9-40.662 là của Nguyễn Thanh Nghiệp, Nghiệp không biết mục đích H mượn đi làm việc gì nên cơ quan điều tra không thu giữ là có căn cứ nên không đề nghị xem xét.

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Trọng Hiếu là luật sư Phạm Công Anh Thi phát biểu lời bào chữa và có ý kiến tranh luận như sau: Đồng ý với Cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum về tội danh,

- 5 -

điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Đinh Trọng H. Tuy nhiên, thấy rằng bị cáo Đinh Trọng H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo Đinh Trọng H và Vi Văn Nh không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì. Các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Kon Tum, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo bị truy tố:

Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo Đinh Trọng H và Vi Văn Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người liên quan, người chứng kiến, vật chứng, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Tối ngày 09/5/2022, Đinh Trọng Hiếu đã vận chuyển thuê ma tuý cho 01 (một) người tên A Th (không rõ nhân thân, lai lịch) từ khu vực thôn Đ M, xã P Y, huyện Ng H tỉnh K T đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn T K, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T giao cho 01 (một) người đàn ông ở Gia Lai (không rõ nhân thân, lai lịch) để lấy tiền công 800.000 đ (tám trăm ngàn đồng), khi mang ma tuý đến thì chưa có người đến nhận nên H giấu ở khu vực nghĩa trang sau đó H đến nhà Vi Văn Nh và rủ Nhớ ra quán vỉa hè thuộc thôn M T, xã P Y, huyện Ng H, tỉnh K T uống rượu, uống được khoảng 10 phút thì H bảo Nhớ chở đến khu vực nghĩa trang tại đây H gặp người đàn ông để giao ma tuý và H nói Nhớ quay lại quán rượu trả tiền. H vào trong nghĩa trang lấy ma tuý giao cho người đàn ông, người đàn ông lấy một ít để thử nhưng người này chê số ma tuý đó và yêu cầu đổi loại khác, cùng lúc này thì Nhớ đã quay lại chỗ H và người đàn ông, người đàn ông này cầm số ma tuý đã thử đó đi đến chỗ Nhớ và cho Nhớ, Vi Văn Nh biết là ma tuý nên đã cất giấu số ma túy này trong túi áo khoác bên phải với mục đích là để sử dụng. Ngay lúc này lực lượng chức năng tiến hành truy đuổi, bắt giữ Đinh Trọng Hiếu và Vi Văn Nh cùng tang vật của vụ án, đối với người đàn ông Gia Lai cơ quan chức năng truy đuổi nhưng không bắt được.

- 6 -

Kết luận giám định xác định: mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) là ma túy, có khối lượng: 783,56 gam là loại: Methamphetamine; Mẫu cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) là ma túy, có khối lượng: 0,957 gam, là loại: Methamphetamine. Tổng khối lượng để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đinh Trọng Hiếu là (783,56 gam + 0,957 gam)=784,517 gam Methamphetamine.

Do đó, hành vi của Đinh Trọng H đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015; hành vi của Vi Văn Nh phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: các bị cáo Đinh Trọng H và Vi Văn Nh đều đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được áp dụng đối với các bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về nhân thân:

- Bị cáo Vi Văn Nh không có tiền án; có một tiền sự: Ngày 27/3/2022 bị Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Bờ Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính: 04 triệu đồng về hành vi “Cư dân biên giới qua lại biên giới không đúng các điểm quy định dành cho việc qua lại của cư dân biên giới”(chưa được xoá).

- Bị cáo Đinh Trọng H có nhân thân xấu: đã 03 lần thực hiện hành vi phạm tội trong đó có 01 lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng được đình chỉ do người bị hại rút yêu cầu khởi tố; 02 lần phạm tội bị Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy xét xử và xử phạt hình 16 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 24 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Qua phân tích, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy tổng khối lượng 784,517 gam, loại Methamphetamine của bị cáo Đinh Trọng Hiếu là ®Æc biÖt nghiªm träng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy số lượng 0,957 gam, loại Methamphetamine của Vi Văn NHớ có tính chất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác.

- 7 -

Do đó, cần xét xử các bị cáo một mức án thật nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài tương xứng với hành vi của từng bị cáo mới đủ sức cải tạo giáo dục các bị cáo đồng thời trừng trị cũng như răn đe, phòng ngừa chung trước tình hình tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp như hiện nay.

Ngoài ra, cần áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HSST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 250 cuả Bộ luật hình sự năm 2015: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”.

Xét gia đình các bị cáo có khó khăn về kinh tế, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại nơi có điều kiện kinh tế-xã hội còn khó khăn. Nếu áp dụng hình phạt bổ sung nêu trên sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống gia đình các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các vấn đề khác:

Đối với người tên A Th (người đã thuê Hiếu vận chuyển ma tuý) và người đàn ông ở Gia Lai (người nhận ma tuý do Hiếu vận chuyển), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng đến nay chưa xác minh được nhân thân, lai lịch. Do vậy, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thanh Ngh người cho H mượn xe máy đi chở ma tuý và chở Vi Văn Nh. Do Ngh không biết việc Đinh Trọng H vận chuyển ma tuý và Vi Văn Nh tàng trữ ma tuý nên không xử lý là có căn cứ.

Đối với anh Lưu Văn Qu có đăng ký chủ số thuê bao 0986615709 (là số điện thoại mà bị can Đinh Trọng H sử dụng) nhưng đã bỏ và hiện tại không còn sử dụng nữa, Lưu Văn Qu cũng không cho ai mượn, bán cho ai cả và đối với Y V có đăng ký chủ thuê bao số 082878722 (là số điện thoại mà H cho rằng là của người đàn ông Gia Lai liên lạc để nhận số ma túy) nhưng Y V hiện không sử dụng số điện thoại trên; cả hai đều không liên quan đến vụ án “Vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy” xảy ra ngày 09/05/2022 tại thôn T K, xã Y, huyện Ng H, tỉnh Kon Tum, nên Cơ quan CSĐT không xử lý là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy còn lại sau khi giám định đựng trong 01 (một) hộp bìa cát tông bằng giấy trắng và băng keo trong suốt, bên ngoài hộp có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 101/KLGĐ-KTHS”, tại các mép dán được dán 04 (bốn) giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong có các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia

- 8 -

niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KON TUM”. - là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động dạng phím bấm, nhãn hiệu NOKIA, màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng, chất lượng bên trong (đã niêm phong)- là phương tiện phạm tội mà bị cáo dùng để liên hệ với các đối tượng nhằm vận chuyển trái phép chất ma túy.

- Đối với xe máy hiệu Sirius màu đỏ, biển kiểm soát: 98L9-40.662 là của Nguyễn Thanh Ngh, Ngh không biết mục đích H mượn đi làm việc gì nên cơ quan điều tra không thu giữ là có căn cứ nên không đề cập xem xét thêm.

Về án phí: Buộc các bị cáo Đinh Trọng H, Vi Văn Nh mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 39; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đinh Trọng H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Trọng H tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt tù chung thân của Bản án này với hình phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HSST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 (hai) Bản án là tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/5/2022.

- Căn cứ Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vi Văn Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Vi Văn Nh 16 (Mười sáu) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/5/2022.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy còn lại sau khi giám định đựng trong 01 (một) hộp bìa cát tông bằng giấy trắng và băng keo trong suốt, bên ngoài hộp có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 101/KLGĐ-KTHS”, tại các mép dán được dán 04 (bốn) giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong có các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KON TUM”. - là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

- 9 -

- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động dạng phím bấm, nhãn hiệu NOKIA, màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng, chất lượng bên trong (đã niêm phong)- là phương tiện phạm tội mà bị cáo dùng để liên hệ với các đối tượng nhằm vận chuyển trái phép chất ma túy.

(Các vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/10/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum).

- Về án phí: Căn cứ Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 3; Điều 6; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đinh Trọng H, Vi Văn Nh mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (22/12/2022) lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy đinh của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;

- VKSNDCC tại Đà Nẵng;

- VKSND tỉnh Kon Tum;

- Công an tỉnh Kon Tum;

- Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Kon Tum;

- Cục THA dân sự tỉnh Kon Tum;

- Bị cáo; Người bào chữa;

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;

Huỳnh Nguyên

- TTG Công an tỉnh Kon Tum;

- Lưu hồ sơ vụ án.

- 10 -

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- 11 -

- 12 -

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;

- VKSNDCC tại Đà Nẵng;

- VKSND tỉnh Kon Tum;

- Công an tỉnh Kon Tum;

- Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Kon Tum;

- Cục THA dân sự tỉnh Kon Tum;

- Bị cáo; Người bào chữa;

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;

Ngô Văn Minh

- TTG Công an tỉnh Kon Tum;

- Lưu hồ sơ vụ án.

- 13 -

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- 14 -

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ