vanban.org

Bản án 43/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS Xử phạt: Bùi Văn Q 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính 14/02/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Q - phạm tội cố ý truyền HIV cho người khác (điều 149 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HS-ST
Ngày: 24 - 05 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Đặng Văn Thuận

2. Bà Quách Thị Tình

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 05 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2022/HSST ngày 29 tháng 04 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 05 năm 2022 đối với bị cáo:

Bùi Văn Q; sinh ngày 20/10/1996, tại xã TC, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn ĐT, xã TC, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 06/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn T và bà Bùi Thị L; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 14/02/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người làm chứng: Anh Bùi Văn V – Sinh năm 1995; Địa chỉ: thôn CL1, xã TM, huyện T, Thanh Hóa (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 05 phút ngày 14 tháng 02 năm 2022, Tổ công tác Công an huyện T đang làm nhiệm vụ tại đường liên thôn đoạn qua thôn Thành Quang, xã TC đã phát hiện, bắt quả tang đối tượng Bùi Văn Q – sinh năm 1996, trú tại thôn ĐT, xã TC về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kiểm tra, thu giữ tại lòng bàn tay trái của Bùi Văn Q 01 gói giấy bạc màu vàng, mặt trong màu trắng, kích thước khoảng (01x02)cm, bên trong gói chứa 02 gói giấy bạc màu vàng, đều có kích thước khoảng (0,5x01)cm, chứa chất bột màu trắng ngà; Q khai là ma túy Q mua về cất giữ trên người nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã đưa Bùi Văn Q về trụ sở Ủy ban nhân dân xã TC, huyện T để làm việc và lập biên bản bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số tang vật nói trên.

Tại bản Kết luận giám định số 784/PC09 ngày 17/02/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: chất bột màu trắng ngà chứa trong 02 gói giấy bạc màu vàng, đều có kích thước khoảng (0,5x01)cm, đựng trong 01 gói giấy bạc màu vàng, kích thước khoảng (01x02)cm thu giữ của Bùi Văn Q là ma túy, có tổng khối lượng là 0,173 gam, loại Heroine.

Về nguồn gốc số ma túy, Bùi Văn Q khai nhận: khoảng 13 giờ ngày 14/2/2022, Q đi bộ một mình, sau đó đi nhờ xe của người đi đường đến huyện CT, tỉnh Thanh Hóa để tìm mua ma túy. Khi Q đi đến khu vực bãi đất trống gần thị trấn PS, huyện CT thì gặp một người đàn ông lạ mặt, không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Q đã trao đổi và mua của người này 200.000 đồng được 01 gói giấy bên trong chứa 02 gói ma túy. Sau đó Q đi nhờ xe của người đi đường về nhà ở thôn ĐT, lấy ma túy từ 02 gói giấy mua được ra rồi lấy ở mỗi gói một phần để sử dụng, sau đó gói 02 gói giấy lại như cũ, cầm ở lòng bàn tay trái của Q rồi đi đến thôn TQ để chơi. Tại đây Q gặp anh Bùi Văn V- sinh năm 1995, trú tại thôn CL1, xã TM, huyện T. Cả hai đang vừa đi bộ ở dọc đường vừa nói chyện với nhau thì bị Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Bùi Văn Q đang tàng trữ ma túy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Q, do Q khai không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng vụ án: Tại thời điểm bắt quả tang Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 gói giấy bạc màu vàng, kích thước khoảng (01x02)cm bên trong có chứa 02 gói giấy bạc màu vàng kích thước (0,5x01)cm chứa các chất bột màu trắng ngà (kết quả giám định là ma túy, loại Heroine) có khối lượng 0,173 gam. Sau giám định, cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật giám định, gồm: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,149 gam chất bột màu trắng được niêm phong trong một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đăng, Phạm Thanh Hải và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Toàn bộ số tang vật còn lại hiện đang bảo quản chờ xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSTT, ngày 29/04/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Bùi Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 14/02/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong hoàn mẫu giám định có chữ ký của Phạm Thanh Hải, Nguyễn Trần Đăng và 07 (bảy) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong có chứa 0,149 gam ma túy, loại heroine. Vật chứng hiện đang được bảo quản, chờ xử lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn Q thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chứng minh: Khoảng 16 giờ 05 phút ngày 14 tháng 02 năm 2022, Tổ công tác Công an huyện T đang làm nhiệm vụ tại đường liên thôn đoạn qua thôn Thành Quang, xã TC, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, bắt quả tạng Bùi Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, qua giám định có trọng lượng là 0,173 gam ma túy loại heroine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án và trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán do những tác hại xấu đến đời sống kinh tế, xã hội cũng như sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác nhưng vẫn phạm tội. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm và xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có 01 (một) tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, cần xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

. Kết quả điều tra, xác minh bị cáo Bùi Văn Q hiện tại bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Đối với đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Văn Q, Q khai mua của một người đàn ông tại khu vực bãi đất trống gần thị trấn PS, huyện CT, nhưng không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Trong quá trình điều tra, Q không cung cấp được các thông tin về nhân thân, lai lịch cụ thể của người đàn ông đã bán ma túy cho Q, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.

. Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong hoàn mẫu giám định có chữ ký của Phạm Thanh Hải, Nguyễn Trần Đăng và 07 (bảy) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong có chứa 0,149 gam ma túy, loại heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS

Xử phạt: Bùi Văn Q 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính 14/02/2022.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 47; Khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong hoàn mẫu giám định có chữ ký của Phạm Thanh Hải, Nguyễn Trần Đăng và 07 (bảy) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong có chứa 0,149 gam ma túy, loại heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/05/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện T.

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ