- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Minh Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Triệu Minh Đ và Triệu Ứng L phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2022/HS-ST Ngày 26/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Kiểm.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nông Thị Quyên.
- Ông Trần Văn Thuận.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Tân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đại Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 26/9/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2022/HSST ngày 09/9/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXXST- HS ngày 15/9/2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Triệu Minh Đ (Không co tên gọi khác), sinh năm 1997 tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Pác Là, xã Yên Phong, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Triệu Ứng Trọng và bà Trần Thị Phấn; vợ là Đặng Thị Chạn, chưa có con; tiền sự: Không; tiền án: 01. Tại bản án số 09/2016/HSST ngày 16/3/2016, của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt Triệu Minh Đ 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành xong Bản án. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2022 đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Triệu Ứng L ( Không có tên gọi khác), sinh năm 1996 tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Pác Toong, xã Yên Phong, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Triệu Ứng Khâm và bà Nông Thị Khai; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không. Tiền sự: 01.Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 541a/QĐ-XPHC ngày 30/11/2021 của Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt Triệu Ứng L số tiền 350.000 (Ba trăm năm mươi nghìn) đồng về hành vi “Đánh bạc”.
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 45/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014, của Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt Triệu Ứng L số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn) đồng về hành vi đánh nhau.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2022 đến nay. Có mặt.
* Bị hại: Ông Đường Ngọc Toàn, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Tổ dân phố Phúc Xuân, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Chị Bế Thị Dung, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Tổ dân phố Phúc Xuân, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
* Người chứng kiến: Ông Phan Thanh Thức, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Tổ dân phố Phúc Xuân, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Triệu Ứng L và Triệu Minh Đ là các đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 18/4/2022, L sang nhà Đ chơi và rủ Đ đi mua ma tuý cùng nhau sử dụng, Đ đồng ý, L điều khiển xe mô tô của mình nhãn hiệu LANDA, màu xanh đen, biển kiểm soát: 20L8-9552 đi từ nhà Đ đến khu vực huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên tìm mua ma túy về để cùng nhau sử dụng nhưng không tìm mua được ma túy nên đi về. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19/4/2022, khi đang trên đường về nhà, cách ngã năm Lương Thực khoảng 100m thuộc tổ dân phố Phúc Xuân, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đoạn đường hướng Chợ Chu đi Bắc Kạn, Đ và L phát hiện thấy ở bãi đất trống bên phía bên trái đường có 02 (hai) chiếc xe công nông đầu dọc của ông Đường Ngọc Toàn đang đỗ tại đó. Đ và L nhìn quanh không thấy có ai nên nảy sinh ý định vào tìm tài sản để trộm cắp đem bán. L và Đ đi xe sang lề đường bên kia rồi dắt xe vào bãi đất trống và để trước đầu chiếc xe đầu dọc gần tường rào lưới B40. Sau đó, Đ và L cùng nhau tìm xung quanh xem có đồ đạc gì giá trị hay không thì thấy trong hộp đựng đồ ở dưới ghế lái xe đầu dọc gần tường rào B40 có 01 bộ dụng cụ gồm: 02 chiếc Cờ lê; 01 chiếc Mỏ lết; 01 chiếc Tuốc lơ vít. Sau đó, Đ và L cùng nhau dùng Cờ lê để tháo đầu máy nổ của xe đầu dọc để bán lấy tiền. Sau khi tháo xong, Đ và L đặt đầu máy nổ lên yên xe mô tô, còn bộ dụng cụ nêu trên thì đặt tại giá để đồ ở phía trước yên xe rồi Đ điều khiển chiếc xe mô tô đi ra khỏi bãi đất trống, L giữ đầu nổ ở đằng sau để không bị rơi, đi về hướng đầu cầu Ba Ngạc, xã Bảo Cường, huyện Định Hóa xem có quán sắt vụn nào còn mở cửa không để bán lấy tiền. Đi được khoảng 05m thì Đ và L đổi lái, L lên điều khiển xe còn Đ đi sau để giữ đầu nổ. Hai đối tượng di chuyển như vậy đến ngã tư đèn xanh, đèn đỏ thị trấn Chợ Chu thì thấy việc di chuyển như vậy rất chậm nên đã thống nhất để L điều khiển xe đi tìm nơi tiêu thụ tài sản vừa trộm cắp được còn Đ sẽ đi bộ theo sau, sau khi bán được thì L sẽ quay lại đón Đ. Khi L điều khiển xe đi qua cầu Ba Ngạc, sang đầu cầu bên kia gần nhà bán sắt vụn thì bị người dân phát hiện nên đã bỏ lại xe mô tô cùng tài sản vừa trộm cắp được rồi bỏ chạy. L chạy theo đường ven sông rồi quay lại đường đi Bến xe khách Định Hóa và đứng ở đó. Lúc này, Đ cũng đi bộ tới đầu đường rẽ từ cầu Ba Ngạc đi Bến xe khách Định Hóa thì thấy ở đầu cầu bên kia có người dân đang tụ tập, Đ nhìn về phía đường đi bến xe khách Định Hóa thì thấy L rồi chạy lại chỗ L đứng. L bảo Đ là bị người dân phát hiện nên bỏ xe, bỏ đầu nổ để chạy. Cả hai sau đó đã đi bộ đến khu vực dốc Đỏ thuộc xã Kim Phượng, huyện Định Hóa thì thấy một bãi gỗ bóc và trốn tại đó đến khi trời sáng thì cả hai cùng bắt xe khách đi về nhà.
Vật chứng gồm: 01 (một) đầu máy nổ động cơ Diezel, loại ST-1110, nhãn hiệu CHANG CHAI, sản xuất năm 2007; 01 (một) Cờ lê, trên bề mặt có chữ CHROME VANADIUM 18, bằng kim loại, đã đã qua sử dụng; 01 (một) Cờ lê, trên bề mặt có chữ CHROME VANADIUM 13, bằng kim loại, đã đã qua sử dụng; 01 (một) mỏ lết, trên bề mặt có chữ 8”-200mm, bằng kim loại, đã đã qua sử dụng; 01 (một) tuốc nơ vít, dài khoảng 20cm, tay cầm màu đỏ, bằng kim loại, đã qua sử dụng, sau khi xác định ông Đường Ngọc Toàn là chủ sở hữu, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Toàn sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu LANDA, màu xanh đen, biển kiểm soát: 20L8-9552, số máy: FMH 301955, đã qua sử dụng. Đây là chiếc xe mô tô mà Đ và L sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Tại bản Kết L định giá tài sản số 14/KL-ĐG ngày 18/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết L giá trị của tài sản bị trộm cắp là 01 (một) đầu nổ động cơ DIEZEL, năm sản xuất: 2007, xuất xứ: Trung Quốc, nhãn hiệu CHANG CHAI, loại ST-1110 (thường gọi D20) màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng có giá trị là 2.000.000đ (hai triệu) đồng.
- Đối với các tài sản còn lại gồm: 01 (một) Cờ lê, trên bề mặt có chữ CHROME VANADIUM 18, bằng kim loại, đã đã qua sử dụng; 01 (một) Cờ lê, trên bề mặt có chữ CHROME VANADIUM 13, bằng kim loại, đã đã qua sử dụng; 01 (một) mỏ lết, trên bề mặt có chữ 8”-200mm, bằng kim loại, đã đã qua sử dụng; 01 (một) tuốc lơ vít, dài khoảng 20cm, tay cầm màu đỏ, bằng kim loại, đã qua sử dụng. Do đây là những tài sản đã cũ, lại không rõ thời gian mua, giá trị mua lúc ban đầu, vì vậy Hội đồng định giá thống nhất không xác định giá trị của các tài sản nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 45/CT-VKSĐH, ngày 07/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Triệu Minh Đ và Triệu Ứng L về tội "Trộm cắp tài sản", theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo thừa nhận hành vi bị truy tố, xét xử là đúng, không oan. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố trong Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Triệu Minh Đ và Triệu Ứng L phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Minh Đ từ 18 đến 24 tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam là ngày 17/6/2022.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Ứng L từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam là ngày 17/6/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự. Tịch thu, hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu LANDA, màu xanh đen, biển kiểm soát: 20L8-9552, số máy: FMH 301955, đã qua sử dụng là xe của bị cáo L dùng làm phương tiện phạm tội.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Triệu Minh Đ và Triệu Ứng L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản bị truy tố là đúng, không oan và không có ý kiến tranh L. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 19/4/2022, tại bãi đất trống thuộc Tổ dân phố Phúc Xuân, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, lợi dụng sơ hở của ông Đường Ngọc Toàn trong việc quản lý tài sản, Triệu Minh Đ và Triệu Ứng L đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) đầu máy nổ động cơ Diezel, loại ST-1110, nhãn hiệu CHANG CHAI, sản xuất năm 2007 có giá trị 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng); 01(một) Cờ lê, trên bề mặt có chữ CHROME VANADIUM 18, bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) Cờ lê, trên bề mặt có chữ CHROME VANADIUM 13, bằng kim loại, đã đã qua sử dụng; 01 (một) mỏ lết, trên bề mặt có chữ 8”-200mm, bằng kim loại, đã đã qua sử dụng; 01 (một) tuốc lơ vít, dài khoảng 20cm, tay cầm màu đỏ, bằng kim loại, đã qua sử dụng (Hội đồng định giá không xác định giá trị).
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản", theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ....thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Về nhân thân, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội: Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác, đi ngược lại công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của toàn xã hội, đã xâm phạm đến các điều cấm được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi bị cáo đã thực hiện phải được xử lý bằng pháp luật hình sự. Các bị cáo cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo Đ có một tiền án về tội "Trộm cắp tài sản", bị cáo L đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, có một tiền sự về hành vi "Đánh bạc". Các bị cáo đều là người nghiện chất ma túy.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đ có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, thấy rằng bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Bị cáo Đ có một tiền án về tội "Trộm cắp tài sản", bị cáo L nhiều lần bị xử phạt hành chính nhưng các bị cáo không lấy đó là bài học rèn luyện, tu dưỡng bản thân thành người có ích mà lại tiếp tục có hành vi "Trộm cắp tài sản". Do vậy, để đảm bảo phòng chống tội phạm tại địa phương trong tình hình hiện nay có diễn biến phức tạp, cần có hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống chung trong xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Các bị cáo đều nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án là ông Đường Ngọc Toàn đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vật chứng: 01 chiếc đầu nổ động cơ DIEZEL, số cờ lê, mỏ lết, tô vít bằng kim loại đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu LANDA, màu xanh đen, biển kiểm soát: 20L8-9552, số máy: FMH 301955, đã qua sử dụng, thuộc quyền sở hữu của bị cáo Triệu Ứng L, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và vấn đề khác là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
1.Tuyên bố: Các bị cáo Triệu Minh Đ và Triệu Ứng L phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Minh Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 17/6/2022.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Ứng L 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 17/6/2022.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam 45 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với các bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu LANDA, màu xanh đen, biển kiểm soát: 20L8-9552, số máy: FMH 301955 của Triệu Ứng L. ( Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận lập ngày 08/9/2022, giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Hóa).
2. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Triệu Minh Đ và Triệu Ứng L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo; Báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Định Hóa; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Chi cục THADS huyện Định Hóa; - Công an huyện Định Hóa; - Bị cáo; Bị hại; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Kiểm |